Chuyển đổi số: Ngân hàng đối diện “vật cản” từ tội phạm công nghệ

Chí Tín
(TBTCO) - Việc chuyển đổi số ngân hàng đang cho thấy những con số ấn tượng và xu hướng này có thể đem lại những hiệu quả đột biến về năng suất, nhưng bên cạnh đó, nhiều “vật cản” cũng không nhỏ khi ngân hàng đang là đối tượng số một của tội phạm công nghệ. Trong đó, tội phạm tấn công cả với mục đích đánh cắp tiền lẫn đánh cắp kho dữ liệu khổng lồ trong các ngân hàng.
aa

Hiệu quả từ ứng dụng công nghệ

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến nay nhiều ngân hàng Việt Nam có trên 90% giao dịch trên kênh số. Tốc độ tăng trưởng về giao dịch thanh toán di động bình quân hàng năm đạt hơn 90%; riêng trong 7 tháng đầu năm 2022, tổng số lượng giao dịch qua Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng gần 13,63% về giá trị; qua hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 95,62% về số lượng và 112,15% về giá trị. Giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 78% về số lượng và 29,3% về giá trị; qua Internet tăng tương ứng 68,5% và 31,6%; qua điện thoại di động tăng 97,8% và 84,2%; qua QR code tăng 100,9% và 142,5%...

Đại diện một ngân hàng mới đây cho biết, chi phí giá thành cho một giao dịch bằng công nghệ số thậm chí chỉ bằng 1/60 so với thực hiện bằng phương pháp truyền thống. Thời gian mở một thẻ tín dụng nếu áp dụng công nghệ mới có thể chỉ còn 5 - 7 phút thay vì 5 - 7 ngày như trước đây. Đây là việc mà trước đây chưa từng làm được, nhưng hiện nay thẻ tín dụng có làm hàng loạt với chi phí thấp và cần rất ít nhân sự tham gia.

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồ họa: Văn Chung

Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh, bối cảnh dịch bệnh đã góp phần gia tăng nhanh chóng nhu cầu giao dịch thanh toán trên các kênh số nhưng các hạ tầng công nghệ, thanh toán của ngành ngân hàng vẫn đảm bảo hoạt động thông suốt, an toàn. “Điều này cho thấy ngành ngân hàng đã chủ động trong đầu tư, phát triển hạ tầng để bắt kịp được với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của thị trường và đáp ứng tốt nhu cầu, kỳ vọng của khách hàng, người dân”- ông Nguyễn Kim Anh nói.

Những chuyển biến từ công nghệ tỏ ra là một lựa chọn lý tưởng cho các ngân hàng trước yêu cầu phải tiết giảm chi phí để vừa đảm bảo giữ được lãi suất huy động đủ hấp dẫn người gửi tiền, nhưng không tăng lãi suất cho vay quá cao, đáp ứng yêu cầu của Quốc hội và Chính phủ trong việc ổn định lãi suất đầu ra nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi sau đại dịch.

“Miếng mồi thơm” của tội phạm công nghệ

Một vài con số trên cho thấy tính hiệu quả rõ rệt của việc đầu tư công nghệ ứng dụng trong các dịch vụ ngân hàng, thể hiện cả đối với các ngân hàng lẫn người dân sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, những trở lực phía trước cũng không nhỏ bởi nhóm các tổ chức tài chính - ngân hàng hiện đang là mục tiêu tấn công số 1 của tội phạm công nghệ.

Ông Đỗ Ngọc Duy Trắc - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Dịch vụ An ninh mạng VinCSS cho biết, các tổ chức tài chính – ngân hàng là đối tượng được tội phạm mạng “quan tâm” trước hết là lợi ích kinh tế từ việc này là rất lớn. Số liệu được ông Trắc cho biết, số tiền tội phạm công nghệ có được trên thế giới thậm chí còn nhiều hơn là buôn heroin và buôn vũ khí cộng lại. Đặc biệt, tội phạm công nghệ thường nhắm vào mắt xích yếu nhất trong các khâu phòng vệ của các tổ chức tài chính là người dùng đầu cuối. Trong khi đó, các phương thức bảo mật truyền thống trước đây là mật khẩu và OTP hiện đã bị lạc hậu và nó cần thay thế bằng các tính năng công nghệ mới hơn.

Một số kiến nghị, đề xuất từ đại diện Ngân hàng Nhà nước

Ông Lê Anh Dũng - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, cần đẩy nhanh hoàn thiện các tiêu chuẩn kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu Căn cước công dân, cho phép chia sẻ, kết nối mở với các ngành dịch vụ như ngân hàng, viễn thông, bảo hiểm... để hỗ trợ định danh, xác thực khách hàng bằng phương tiện điện tử, qua đó tăng độ chính xác trong định danh, xác thực khách hàng. Hệ thống pháp luật cũng cần sửa đổi Luật Giao dịch điện tử 2005 tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho các bộ, ngành thực hiện chuyển đổi số, tạo thuận lợi cho giao dịch điện tử và tăng cường lòng tin đối với giao dịch điện tử.

Bên cạnh việc tấn công các ngân hàng, tổ chức tài chính để đánh cắp tiền bạc, các vụ tấn công của tội phạm công nghệ còn nhằm mục đích đánh cắp kho dữ liệu cá nhân khổng lồ được lưu trữ trong các tổ chức này.

Báo cáo mới đây của Công ty PwC với chủ đề “Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xu hướng chuyển đổi số ngành ngân hàng”, cũng có chia sẻ thông tin cho biết vào giữa năm 2022, Ngân hàng Flagstar Bank tại Mỹ đã thông báo vụ tấn công vào hệ thống của họ cuối năm ngoái đã làm lộ lọt thông tin cá nhân của trên 1,5 triệu khách hàng. Các thông tin bị đánh cắp là thông tin định danh cá nhân như tên, địa chỉ, số an sinh xã hội... Đây không phải là lần đầu tiên ngân hàng Flagstar Bank bị tấn công, trước đó vào cuối năm 2020, ngân hàng này cũng bị tấn công mã độc tống tiền (ransomware) gây lộ lọt dữ liệu cá nhân nhạy cảm và phải nộp phạt và bồi thường trên 5,9 triệu USD.

Ông Phó Đức Giang - Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ An toàn Thông tin PwC Việt Nam cho biết, riêng đối với Việt Nam, các ngân hàng cũng sẽ có nhiều việc phải làm để kiểm soát mất an toàn dữ liệu cá nhân. Trong khi đó về mặt luật pháp, các văn bản hiện hành cũng đã có một số quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhưng các nhà làm luật sẽ vẫn phải tiếp tục hoàn thiện các quy định để đảm bảo sự bao quát của hệ thống pháp luật.

Chí Tín

Đọc thêm

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, năng lực bồi thường và mức độ số hóa đang trở thành thước đo quan trọng đối với uy tín doanh nghiệp. Với Bảo hiểm PVI, hai yếu tố này không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà còn trực tiếp định hình trải nghiệm khách hàng tại thời điểm rủi ro xảy ra.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

(TBTCO) - Ngày 18/6, Tập đoàn Bảo hiểm DBV tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường khi được vinh danh Top 10 Công ty Bảo hiểm uy tín năm 2026, bảng xếp hạng thường niên do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet công bố.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,420 14,720
Kim TT/AVPL 14,420 14,720
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,420 14,720
Nguyên Liệu 99.99 13,050 13,250
Nguyên Liệu 99.9 13,000 13,200
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,200 147,200
Hà Nội - PNJ 144,200 147,200
Đà Nẵng - PNJ 144,200 147,200
Miền Tây - PNJ 144,200 147,200
Tây Nguyên - PNJ 144,200 147,200
Đông Nam Bộ - PNJ 144,200 147,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 14,720
Miếng SJC Nghệ An 14,420 14,720
Miếng SJC Thái Bình 14,420 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,442 14,722
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,442 14,723
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,421 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 144,158
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,668 99,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,475 88,975
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,543 85,043
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,371 60,871
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Cập nhật: 22/06/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18190 18774
CAD 18058 18333 18954
CHF 31959 32340 32980
CNY 0 3846 3940
EUR 29546 29767 30851
GBP 34019 34409 35350
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14795 15380
SGD 19816 20098 20708
THB 715 778 833
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26136 26136 26440
AUD 18111 18211 19141
CAD 18258 18358 19370
CHF 32258 32288 33879
CNY 3827.1 3852.1 3988
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29708 29738 31469
GBP 34321 34371 36140
HKD 0 3355 0
JPY 159.67 160.17 170.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14913 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 19998 20128 20861
THB 0 746.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14370000 14370000 14670000
SBJ 13000000 13000000 14670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,075 26,175 26,440
USD20 26,075 26,175 26,440
USD1 23,922 26,175 26,440
AUD 18,099 18,249 19,387
EUR 29,787 29,837 31,288
CAD 18,144 18,294 19,626
SGD 20,013 20,213 20,802
JPY 160.06 161.56 166.32
GBP 34,151 34,551 35,462
XAU 14,368,000 0 14,672,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 784 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/06/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80