Đã đến lúc xem xét thay thế "room tín dụng" bằng giải pháp có tính thị trường hơn

Dương An
(TBTCO) - Trong bối cảnh gói hỗ trợ lãi suất 40.000 tỷ đồng bắt đầu được triển khai khẩn trương, nhiều ngân hàng hiện nay lại rơi vào tình trạng là hết “room” cho vay. Một số chuyên gia cho rằng, tới đây nên bỏ cách quản lý theo kiểu hành chính này, thay thế bằng một công cụ điều hành có tính thị trường và gần với thông lệ quốc tế hơn.
aa

Thống đốc Nguyễn Thị Hồng: Cấp hạn mức tín dụng là biện pháp điều hành hiệu quả Kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước nới thêm hạn mức tín dụng vào hai quý cuối năm Mặt bằng lãi suất sẽ ở mức thấp nhờ hạn mức tín dụng được nớ]

Xem xét giải pháp mới phù hợp hơn

Theo PGS.TS. Đặng Ngọc Đức - nguyên Viện trưởng Viện Ngân hàng Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân, việc sử dụng công cụ hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại dựa trên 3 lý do cơ bản: hạn chế tình trạng tăng trưởng tín dụng quá cao, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao; đồng thời tăng trưởng tín dụng có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nóng; để phân biệt các ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh an toàn và các ngân hàng thương mại có mức độ rủi ro cao hơn; kiểm soát cơ cấu đầu tư vốn trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, ở các nước kinh tế thị trường phát triển, hạn mức tín dụng được áp dụng thông qua các hình thức mang tính kinh tế và mềm dẻo hơn như “cửa sổ chiết khấu” (discount windows) hay công cụ tái chiết khấu. Khi muốn hạn chế tăng trưởng tín dụng, ngân hàng trung ương sẽ thu hẹp “cửa sổ chiết khấu”, trong khi muốn điều tiết cơ cấu các luồng vốn đầu tư vào thị trường bất động sản, hay thị trường chứng khoán trong nền kinh tế, thì công cụ lãi suất và các chính sách tác động đến thu nhập sẽ được sử dụng. Nói một cách khác, các nước kinh tế thị trường phát triển luôn ưu tiên cho các công cụ gián tiếp hơn là sử dụng hạn mức tín dụng, vốn là một công cụ mang tính hành chính và trực tiếp.

Đối với thị trường Việt Nam, TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia cho rằng, hạn mức tín dụng hàng năm là một biện pháp hành chính tuy không hoàn toàn như mong muốn của các tổ chức tín dụng, nhưng là biện pháp cần thiết nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức phù hợp để đảm bảo vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa kiểm soát rủi ro, kiểm soát nợ xấu và lạm phát giữ ổn định vĩ mô.

Song, sau hơn 10 năm triển khai, TS. Cấn Văn Lực cho rằng đã đến lúc cần rà soát, xem xét lại xem có nên tiếp tục dùng nữa hay không; đồng thời cần có một cái giải pháp hay công cụ điều hành căn cơ hơn, có tính thị trường hơn và thông lệ quốc tế hơn.

“Chúng tôi cho rằng chỉ nên sử dụng công cụ này trong khoảng 1 - 2 năm nữa. Năm tới có thể chúng ta sẽ bàn đến việc sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng. Khi đó, sẽ xem xét giải pháp mới phù hợp với công cụ thị trường hơn và theo thông lệ quốc tế hơn” - vị chuyên gia cho biết.

Khó đảm bảo công bằng, minh bạch trong cấp hạn mức tín dụng

Cho rằng công cụ hạn mức tín dụng hiện nay rất hành chính, cứng nhắc, PGS.TS. Đặng Ngọc Đức nhấn mạnh, vấn đề là cơ chế xây dựng và quản lý việc chấp hành chính sách hạn mức tín dụng chưa và rất khó có thể đảm bảo sự rõ ràng, minh bạch.

“Việc xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của toàn ngành ngân hàng thì có căn cứ, cơ sở từ mục tiêu tăng trưởng và các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác, song việc phân bổ hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại hàng năm hiện nay chủ yếu dựa vào xếp hạng ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, ngoài lịch sử về mức độ rủi ro tín dụng, chưa có hệ thống các chỉ tiêu rõ ràng, khoa học để phân bổ. Nói một cách khác, việc cấp hạn mức tín dụng hàng năm hiện nay chưa và rất khó đảm bảo sự công bằng, minh bạch” - chuyên gia Đặng Ngọc Đức phân tích.

Do đó, PGS.TS Đặng Ngọc Đức đề nghị nên bỏ hạn mức tín dụng để các ngân hàng thương mại tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh, bao gồm cả lợi nhuận và rủi ro. Quy mô hoạt động của các ngân hàng đã được kiểm soát bởi các chỉ tiêu như quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số đầy đủ vốn, cũng như các chỉ tiêu an toàn khác, kết hợp với hoạt động thanh tra và giám sát của Ngân hàng Nhà nước.

Việc bỏ công cụ phân bổ hạn mức tín dụng, theo vị chuyên gia này, sẽ hạn chế tình trạng điều hành “giật cục”, đồng thời tạo động lực thúc đẩy năng lực tối đa của các ngân hàng thương mại mà vẫn đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh và xây dựng nền tảng khách hàng cốt lõi một cách ổn định.

Để thay thế công cụ room tín dụng, TS. Cấn Văn Lực đề nghị xem xét theo hướng quản lý chặt chẽ Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) và theo chuẩn mực của Basel II. Bởi khi quản lý hệ số CAR sẽ giúp cơ quan quản lý kiểm soát được cả phần tử số là vốn chủ sở hữu tăng lên như thế nào và mẫu số (tăng trưởng tín dụng và đầu tư) ra sao.

“Đây cũng là biện pháp mà ngân hàng trung ương các nước thường làm. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, với ngân hàng có mức độ rủi ro cao hơn, họ sẽ yêu cầu ngân hàng đó phải tăng đệm rủi ro lên - tức là phải tăng hệ số CAR; còn ngân hàng nào ở mức độ ít rủi ro hơn, lành mạnh hơn thì CAR theo yêu cầu có thể ở mức độ thấp hơn” - TS Cấn Văn Lực cho hay./.

Dương An

Đọc thêm

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 17,380
Kim TT/AVPL 17,090 17,390
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 17,380
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 17,340
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 17,290
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 17,270
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 173,800
Hà Nội - PNJ 170,800 173,800
Đà Nẵng - PNJ 170,800 173,800
Miền Tây - PNJ 170,800 173,800
Tây Nguyên - PNJ 170,800 173,800
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 173,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 17,380
Miếng SJC Nghệ An 17,080 17,380
Miếng SJC Thái Bình 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 17,380
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,570 17,270
Trang sức 99.99 16,580 17,280
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 17,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 17,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 1,736
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 1,737
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 170,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 129,238
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 11,719
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 105,141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 100,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 71,923
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cập nhật: 31/03/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17797 18373
CAD 18395 18672 19291
CHF 32283 32666 33306
CNY 0 3470 3830
EUR 29639 29910 30937
GBP 34056 34446 35373
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14752 15340
SGD 19874 20156 20686
THB 717 780 833
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,851 29,875 31,107
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,348 34,441 35,413
AUD 17,776 17,840 18,399
CAD 18,635 18,695 19,266
CHF 32,619 32,720 33,478
SGD 20,057 20,119 20,788
CNY - 3,789 3,907
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.06 16.75 18.11
THB 766.55 776.02 825.47
NZD 14,782 14,919 15,263
SEK - 2,732 2,812
DKK - 3,995 4,110
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,124.95 - 6,873.65
TWD 744.81 - 896.72
SAR - 6,921.38 7,245.6
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26355
AUD 17709 17809 18735
CAD 18583 18683 19694
CHF 32534 32564 34139
CNY 3751.5 3776.5 3911.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34360 34410 36168
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20038 20168 20900
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17080000 17080000 17380000
SBJ 15000000 15000000 17380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80