Kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước nới thêm hạn mức tín dụng vào hai quý cuối năm

Thái Duy
Ngân hàng Nhà nước đã chấp thuận việc tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng trong năm 2021 cho một số ngân hàng. SSI Research kỳ vọng, Ngân hàng Nhà nước sẽ nới hạn mức tín dụng thêm một lần nữa vào giai đoạn cuối quý III hoặc đầu quý IV năm nay.
aa

Tăng trưởng tín dụng được nới thêm 2 – 6%

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần 12 – 16/7/2021 của Trung tâm Phân tích và tư vấn đầu tư, Công ty Chứng khoán SSI (SSI Research) cho biết, trong tuần, thị trường mở không phát sinh giao dịch mới, trong khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hút ròng 53 tỷ đồng thông qua việc đáo hạn hợp đồng mua kỳ hạn 7 ngày. Các hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn tiếp tục được thực hiện giúp nguồn cung VND trên liên ngân hàng dồi dào hơn.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng giảm nhẹ 3 điểm cơ bản (bps), chốt tuần ở mức 0,95%/năm với kỳ hạn qua đêm và 1,10% với kỳ hạn 1 tuần. Các chuyên gia của SSI Research dự báo, lãi suất liên ngân hàng sẽ duy trì ở mức thấp khi lượng tiền đồng từ bán ngoại tệ kỳ hạn tiếp tục về nhiều hơn trong thời gian tới.

tín dụng

Cũng theo thông tin từ SSI Research, NHNN trong tuần qua đã chấp thuận việc tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng trong năm 2021 cho một số ngân hàng. Nhìn chung, tăng trưởng tín dụng được nới thêm từ 2 – 6% tùy vào chất lượng tín dụng cũng như các chỉ số an toàn vốn của từng ngân hàng. Tăng trưởng tín dụng trên toàn hệ thống năm 2021 theo hạn mức mới khoảng 11%, cao hơn mức 9% theo hạn mức lần đầu. “Chúng tôi kỳ vọng NHNN sẽ nới hạn mức tín dụng thêm một lần nữa vào giai đoạn cuối quý III hoặc đầu quý IV năm nay” – SSI Research kỳ vọng.

Theo các chuyên gia, hạn mức tăng trưởng tín dụng tăng tạo điều kiện giúp các ngân hàng thương mại có thể giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Cụ thể, một số ngân hàng như VCB, BIDV, Vietinbank, MBB, ACB, HDBank, Sacombank, TPBank và Ngân hàng Bản Việt đã chính thức thông báo giảm lãi suất cho vay ít nhất 1%/năm kể từ 15/7 đến cuối năm, cho các khách hàng bị ảnh hưởng mạnh bởi dịch bệnh. Trong khi đó, lãi suất huy động không thay đổi và được kỳ vọng sẽ đi ngang trong ngắn hạn.

Tỷ giá USD/VND giảm mạnh trên thị trường tự do

Báo cáo của SSI Research cho biết, tuần qua, lạm phát trong tháng 6 của Mỹ được công bố với mức tăng 5,4% so với cùng kỳ - mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 8/2008 và CPI lõi tăng 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái - mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 11/1991 và điều này ngay lập tức đã khiến giá vàng và USD tăng mạnh.

Dù động thái tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED) trong phiên điều trần vào thứ 5 đã phần nào hạ nhiệt thị trường, doanh số bán lẻ tích cực của Mỹ trong tháng 6 và tâm lý thị trường vẫn tương đối thận trọng do diễn biến phức tạp của dịch bệnh toàn cầu giúp USD duy trì đà tăng.

Kết tuần, giá vàng thế giới tăng 0,21%; chỉ số DXY dao động trong vùng từ 92,2 - 92,7 điểm. Các đồng tiền chủ chốt tiếp tục giảm giá so với USD như EUR (-0,59%), GBP (-0,96%), CAD (-1.33%). Các đồng tiền ở khu vực châu Á sự kiểm soát tốt dịch bệnh và tăng trưởng tốt nhờ hoạt động xuất nhập khẩu như TWD (0,22%), KRW (0,79%) tăng giá so với USD.

Tại Việt Nam, SSI Research cho biết, tỷ giá USD/VND hai thị trường có diễn biến trái chiều khi USD/VND niêm yết của các ngân hàng thương mại tăng nhẹ 10 đồng ở mỗi chiều, kết tuần ở mức 22.910/23.110 đồng (mua vào/bán ra).

Ngược lại, tỷ giá tự do giảm tương đối mạnh, 95 đồng ở chiều mua vào và 85 đồng/USD chiều bán ra, kết tuần ở mức 23.205/23.255 đồng. Giá vàng trong nước hầu như không có biến động đáng chú ý, dao động quanh 56,90/57,30 triệu đồng/lượng mặc dù giá vàng thế giới tăng mạnh.

SSI Research cho rằng, nhìn chung, tỷ giá USD/VND từ đầu tháng 7 đến nay giữ xu hướng đi ngang do cung cầu ngoại tệ vẫn khá cân bằng nhờ dòng tiền kiều hối và giải ngân FDI tích cực, đủ để bù đắp cho thâm hụt cán cân thương mại trong quý II. Tỷ giá USD/VND sẽ đi ngang trong ngắn hạn và có thể giảm nhẹ về cuối năm do cán cân thanh toán được cải thiện./.

Thái Duy

Thái Duy

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,500
Hà Nội - PNJ 142,400 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,500
Miền Tây - PNJ 142,400 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 14,560
Miếng SJC Nghệ An 14,260 14,560
Miếng SJC Thái Bình 14,260 14,560
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 14,610
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 14,520
Trang sức 99.99 13,930 14,530
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 14,562
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 14,563
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 1,451
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 1,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 142,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 108,236
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 98,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 8,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 84,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 60,246
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cập nhật: 15/09/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 15/09/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30