Đề xuất giải pháp "kép" cho thị trường vàng, lập sàn hybrid và nhập khẩu có kiểm soát

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới nhiều lần nới rộng, cùng những bất cập tồn tại gây ra bất ổn cho thị trường vàng. Trước thực trạng này, các chuyên gia đề xuất xem xét cấp phép nhập khẩu vàng theo hạn ngạch, lưu ý dựa trên thặng dư thương mại và mức dự trữ ngoại hối phù hợp. Đồng thời, nghiên cứu thành lập sàn vàng hybrid nhằm thu hẹp chênh lệch giá và kiểm soát hoạt động đầu cơ.
aa
Đề xuất giải pháp
Hiện chênh lệch giữa giá vàng thế giới và trong nước vẫn ở mức cao. Ảnh Lê Toàn

Theo thống kê của phóng viên, trưa ngày 3/6, giá vàng thế giới giao ngay giao dịch quanh mức 3.364 USD/ounce, giảm gần 17 USD so với phiên trước. Từ đầu năm đến nay, giá vàng thế giới đã tăng tổng cộng 741

USD/ounce, tương đương 28,3%, dù vẫn thấp hơn mức đỉnh được thiết lập ngày 22/4, khi từng vượt ngưỡng 3.500 USD/ounce. Cùng thời điểm đó, giá vàng miếng SJC trong nước cũng xác lập kỷ lục với mức niêm yết bán ra lên tới 124,02 triệu đồng/lượng.

Thị trường vàng nhiều bất ổn, giá vàng trong nước “vênh” lớn

Tuy nhiên, khi quy đổi theo tỷ giá, giá vàng thế giới chỉ tương ứng khoảng 108,2 triệu đồng/lượng, chênh lệch gần 16 triệu đồng, tương đương mức vênh hơn 15%. Khoảng cách lớn giữa hai thị trường tiếp tục là vấn đề nhức nhối, gây nhiễu loạn tâm lý và gia tăng rủi ro đầu cơ.

Xem xét cho doanh nghiệp kinh doanh vàng nhập khẩu vàng theo hạn ngạch

"Có thể xem xét cho doanh nghiệp kinh doanh vàng đủ điều kiện nhập khẩu trực tiếp theo quota (hạn ngạch), không qua trung gian, chẳng hạn như 1 - 2 tỷ USD vàng nguyên liệu, vừa tiết kiệm thời gian, vừa giảm được chi phí trung gian không cần thiết để giảm chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới. Tuy nhiên, phải tuân thủ quy định và được cấp phép cụ thể từ Ngân hàng Nhà nước, dựa trên hoạt động kinh doanh thực tế, năng lực sản xuất và trong hạn mức phù hợp với thặng dư thương mại và dự trữ ngoại hối". PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân đề xuất

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), thị trường vàng trong nước hiện vẫn chưa đạt được trạng thái ổn định bền vững, tiếp tục chịu tác động mạnh từ yếu tố tâm lý, kỳ vọng và có khả năng lan tỏa tiêu cực sang thị trường tiền tệ, ngoại hối.

Đáng chú ý, thời gian qua cũng xuất hiện nhiều dấu hiệu bất thường từ hoạt động của một số doanh nghiệp vàng lớn và ngân hàng thương mại lợi dụng tình hình biến động của thị trường để đầu cơ, thao túng giá, trục lợi. Thực trạng này cho thấy công tác quản lý thị trường vẫn còn lỏng lẻo.

Trước tình trạng đó, lãnh đạo Chính phủ yêu cầu NHNN khẩn trương thu hẹp mức chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới về mức hợp lý, tối đa chỉ nên dao động trong khoảng 1 - 2%, thay vì để kéo dài tình trạng chênh lệch trên 10% như vừa qua. Tuy nhiên, tính đến ngày 3/6, dù giá vàng giảm và chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới co hẹp so với mức đỉnh, nhưng vẫn neo cao, khoảng 118 triệu đồng/lượng, cao hơn giá thế giới khoảng 11 triệu đồng/lượng. Mức chênh lệch tương ứng 10%, cho thấy bài toán ổn định thị trường vàng vẫn còn nhiều thách thức.

Trao đổi với phóng viên về giải pháp tăng nguồn cung vàng trên thị trường, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, việc cho phép nhập khẩu vàng cần được nhìn nhận một cách thực tế, bởi nhập khẩu vàng phụ thuộc rất lớn vào nguồn ngoại tệ, trong khi dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang xuống mức thấp nhất trong nhiều năm.

Ông Huân cho rằng, NHNN có thể cấp quota nhập khẩu vàng thông qua một số ngân hàng thương mại, hoặc cấp phép trực tiếp cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Tuy nhiên, nếu thông qua ngân hàng làm trung gian, chi phí đội lên do nhiều lớp trung gian cùng “ăn phần”, khiến giá vàng nhập về cao và khoảng cách với giá quốc tế càng khó thu hẹp.

"Chúng ta nhập khẩu vàng bằng ngoại tệ, trong khi nguồn dự trữ ngoại hối hiện đang khan hiếm, vì vậy, tăng cung bằng việc cho phép nhập khẩu khó khả thi ở thời điểm hiện tại, phải cân nhắc kỹ" - ông Huân lưu ý.

Xem xét "mở cửa" nhập khẩu vẫn phải đi kèm kiểm soát chặt chẽ

Ttheo ông Huỳnh Trung Khánh - cố vấn của Hội đồng Vàng Thế giới tại Việt Nam, việc xóa bỏ thế độc quyền và cho phép các doanh nghiệp đủ năng lực được tham gia sản xuất vàng miếng là giải pháp cần thiết. Trong đó, nên sớm cấp phép nhập khẩu vàng nguyên liệu, nhằm đa dạng hóa và mở rộng nguồn cung.

Phát biểu tại một diễn đàn gần đây, TS. Lê Xuân Nghĩa - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng, lo ngại “chảy máu ngoại tệ” khi nhập khẩu vàng là phi lý. Ông Nghĩa lập luận rằng mỗi năm Việt Nam chỉ nhập 3 - 4 tỷ USD vàng, trong khi rượu ngoại, xì gà và thuốc lá lên tới 8 tỷ USD, nhưng lại không gây tranh luận về việc chảy ngoại tệ.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, cách so sánh này là khập khiễng và bỏ qua bản chất khác biệt giữa vàng và các mặt hàng tiêu dùng thông thường. Việc kiểm soát vàng nghiêm ngặt hơn là điều hoàn toàn hợp lý và cần thiết.

Bởi vàng là hàng hóa đặc biệt, có tính tích trữ cao, ảnh hưởng trực tiếp tới dòng tiền trong nền kinh tế và có thể kích hoạt tâm lý đầu cơ, găm giữ. Trong khi đó, rượu, xì gà hay thuốc lá là hàng hóa tiêu dùng, dù có thể bị chỉ trích vì không thiết yếu, nhưng không tạo ra áp lực hệ thống đối với thị trường tiền tệ, lãi suất, hay tâm lý kỳ vọng như vàng. Hơn nữa, rượu, xì gà hay thuốc lá hiện đang chịu thuế tiêu thụ đặc biệt rất cao, khiến giá bán tăng mạnh và mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Vì vậy, khó có thể so sánh việc tiêu tốn ngoại tệ giữa những mặt hàng này với các loại hàng hóa khác vốn có tính chất rất khác biệt.

Ngoài ra, nhập khẩu vàng không đơn thuần là vấn đề thương mại mà còn tác động đến cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và điều hành tỷ giá. Trong bối cảnh nguồn lực ngoại tệ đang hạn chế và dự trữ ngoại hối có dấu hiệu suy giảm, việc cho phép nhập khẩu vàng có thể khiến áp lực tỷ giá tăng lên và làm ảnh hưởng đến chính sách điều hành. Do đó, mở cửa nhập khẩu vàng nếu không thận trọng, có thể vô tình "mở cửa" cho đầu cơ, phá vỡ những nỗ lực điều hành thị trường ổn định đã duy trì trong suốt hơn một thập kỷ qua.

Đề xuất lập sàn vàng hybrid

Trước những diễn biến phức tạp của thị trường vàng vào đầu những năm 2000, Nhà nước từng chấm dứt hoạt động của các sàn giao dịch vàng và giao dịch vàng tài khoản trong nước; ban hành quy định quản lý hoạt động kinh doanh vàng qua Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 (Nghị định 24). Từ đó, đưa toàn bộ hoạt động của thị trường vàng vào khuôn khổ quản lý. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ triển khai, trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều thay đổi và nhu cầu đầu tư, tích trữ vàng của người dân cũng khác trước đòi hỏi nhanh chóng sửa Nghị định 24.

Tại các cuộc họp gần đây, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu khẩn trương sửa đổi Nghị định 24 ngay trong tháng 6/2025 và xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường vàng. Về lâu dài, Chính phủ sẽ nghiên cứu thành lập sàn giao dịch vàng, cho phép người dân tự do giao dịch minh bạch; tách bạch rõ ràng giữa quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh vàng; đẩy mạnh chế tác vàng trang sức, truyền thông định hướng và hiện đại hóa quản lý giao dịch qua hóa đơn điện tử.

Liên quan đến đề xuất lập sàn vàng, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân nhớ lại từ giai đoạn 2010, khi các sàn giao dịch vàng do tư nhân như các ngân hàng nở rộ, dẫn đến tình trạng đầu cơ, “chơi vàng như cá độ”. Do đó, Chính phủ đã phải can thiệp, yêu cầu dừng hoạt động các sàn này vì rủi ro quá lớn.

Nếu có đề xuất tái lập sàn vàng, chuyên gia này cho rằng, cần rút kinh nghiệm từ quá khứ. Có thể xem xét mô hình sàn vàng hybrid "mô hình lai". Theo đó, một mặt, giao dịch vàng tài khoản giúp người dân giao dịch linh hoạt, kết nối với giá vàng thế giới, hạn chế tình trạng chênh lệch giá mua - bán quá cao như hiện nay. Mặt khác, cho phép giao dịch vàng vật chất nhưng nên áp dụng thuế và phí đủ lớn, để hạn chế giao dịch vàng vật chất, giúp kiểm soát tốt hơn dòng tiền đầu cơ và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80