FED giảm nới lỏng tiền tệ, nhưng tạm thời chưa ảnh hưởng Việt Nam

Chí Tín
(TBTCO) - Một số dự báo việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã có động thái giảm dần quy mô gói nới lỏng định lượng, cũng như một số nước cũng có động thái bớt nới lỏng tiền tệ hơn. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, những ảnh hưởng chưa rõ ràng và chưa tạo sức ép đối với thị trường tiền tệ Việt Nam.
aa

Lo ngại FED tăng lãi suất

Trong gần 2 năm qua, FED vẫn duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm vực dậy tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ sau cú sốc mà Covid-19 gây ra. Mặt trái của chính sách tiền tệ lỏng lẻo là việc đồng tiền mất giá. Thực tế, đồng USD đã giảm giá mạnh trong giai đoạn so với một số đồng tiền khác.

FED giảm nới lỏng tiền tệ, nhưng tạm thời chưa ảnh hưởng Việt Nam

Chỉ số giá nhà sản xuất (PPI) tháng 8/2021 tại Mỹ tăng 8,3% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng hàng năm mạnh nhất kể từ khi số liệu này bắt đầu được lưu hồ sơ vào tháng 11/2010. Lạm phát Mỹ tháng 9 vừa qua đã tăng 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái, tăng 0,4% so với tháng 8 khi trước đó tháng 8 cũng đã tăng 0,3% với tháng 7. Có thể thấy, lạm phát Mỹ đã tăng mạnh so với năm ngoái và có dấu hiệu cho thấy đà tăng liên tiếp qua các tháng.

Số tiền giảm lãi suất của 16 ngân hàng đã đạt hơn 12 nghìn tỷ đồng

Theo thống kê mới đây do các ngân hàng thương mại gửi về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổng số tiền lãi giảm lũy kế từ 15/7/2021 đến 30/9/2021 của 16 ngân hàng là khoảng 12.236 tỷ đồng, đạt 59,36% so với cam kết. Đây là nội dung các ngân hàng thực hiện theo cam kết tại cuộc họp do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam chủ trì hồi tháng 7/2021. Tại thời điểm đó, các ngân hàng đã đưa ra cam kết giảm khoảng 1% lãi suất cho khách hàng bị ảnh hưởng với dịch Covid-19.

Lạm phát tăng cao và duy trì trong thời gian dài sẽ là lo ngại lớn cho FED khi đã và đang duy trì các gói bơm tiền kỷ lục từ quý I/2020 đến nay. Dấu hiệu lạm phát tăng liên tục có thể thúc đẩy FED sớm bước vào chu kỳ thắt chặt tiền tệ hơn, trước hết là động thái cắt giảm chương trình mua tài sản. Kỳ vọng này bắt đầu ngay sau những thông điệp giảm dần quy mô nới lỏng định lượng của FED đưa ra trong cuộc họp Ủy ban Thị trường mở (FOMC) tháng 9 vừa qua. Theo đó, FED sẽ giảm việc mua trái phiếu trị giá 120 tỷ USD/tháng vào giữa tháng 11 tới và kết thúc dự kiến vào giữa năm 2022.

Trong khi đó, không chỉ cắt giảm chương trình mua tài sản mà ngay cả khả năng tăng lãi suất từ FED cũng có thể xảy, tuy nhiên, điều này có thể sẽ phải sang nửa cuối năm 2022, tùy thuộc vào diễn biến của lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ. Một số yếu tố dẫn đến những dự đoán về sức ép tăng lãi suất đối với FED là động thái tăng của lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ. Đến giữa tháng 10/2021, lãi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn hai năm đã tăng 4 điểm, lên mức 0,39%, trở lại mặt bằng lãi suất cao ngang giai đoạn tháng 3/2020.

Chưa có dấu hiệu ảnh hưởng tới Việt Nam

Động thái thắt chặt tiền tệ trở lại của FED nếu diễn ra khiến giới đầu tư đặt mối quan tâm về sự ảnh hưởng của nó tới thị trường tài chính – tiền tệ tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ngoài ra, không chỉ có động thái từ FED mà một số quốc gia khác cũng có tín hiệu giảm chính sách nới lỏng, ví dụ như Ngân hàng Trung ương Na Uy trở thành ngân hàng trung ương lớn đầu tiên của phương Tây tăng lãi suất sau khoảng 1,5 năm duy trì mặt bằng lãi suất siêu thấp chỉ ở mức 0%.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng có đánh giá về diễn biễn thị trường quốc tế thời gian qua khi cho biết một số quốc gia sau giai đoạn nới lỏng tiền tệ để kích thích tăng trưởng kinh tế phục hồi sau đại dịch Covid-19 thì đã có tín hiệu đang thắt chặt trở lại ở một vài nơi.

Về quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, ông Phạm Thanh Hà - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, nhiều năm qua Ngân hàng Nhà nước luôn quan tâm điều hành tín dụng theo từng năm, quá trình điều hành luôn căn cứ kinh tế vĩ mô để điều chỉnh tăng trưởng tín dụng.

Tình hình cụ thể kinh tế vĩ mô của Việt Nam 9 tháng lạm phát bình quân vẫn thấp hơn chỉ tiêu của Quốc hội đề ra. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 9 tháng tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ trong giai đoạn 2016 - 2021. Tính riêng tháng 9, CPI giảm 0,62% so với tháng trước.

Tháng 10/2021, chỉ số CPI tiếp tục giảm 0,2% so với tháng trước và chỉ tăng 1,67% so với tháng 12/2020. Tính chung 10 tháng năm 2021, CPI tăng 1,81% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016. Lạm phát cơ bản 10 tháng tăng 0,84%.

Nhìn chung xuyên suốt đại dịch cho đến thời điểm này, nền tảng vĩ mô vẫn ổn định: Tỷ giá rất ổn định và lạm phát ở mức thấp, dự trữ ngoại hối cao là những tiền đề và dư địa lớn cho chính sách tiền tệ trong thời gian tới. Tuy nhiên, ông Hà cũng cho rằng, nhìn xa hơn sang năm 2022, dự báo có nhiều thách thức cho kiểm soát lạm phát và điều hành chính sách tiền tệ, trong đó có động thái từ nhiều quốc gia dần dần giảm nởi lỏng tiền tệ hơn, nhiều nước đã tăng lãi suất điều hành. “Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi các diễn biến cụ thể và sẽ cố gắng dùng các biện pháp điều hành phù hợp” - ông Hà nói.

Quan điểm điều hành chính sách tiền tệ chung của Ngân hàng Nhà nước
đến cuối năm 2021

Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ ngân hàng nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là nhiệm vụ trước mắt để ổn định chính các ngân hàng thương mại, bên cạnh đó tiếp tục triển khai các chính sách giải pháp để tháo gỡ khó khăn do Covid-19, đồng thời hỗ trợ vốn cho phục hồi nền kinh tế.

Việc hỗ trợ nền kinh tế và hỗ trợ doanh nghiệp là hai nhiệm vụ song song, cùng quan trọng và phải đảm bảo hài hòa cả 2 mục tiêu. Trong đó, khuyến khích các ngân hàng tiếp tục giảm chi phí để tiếp tục giảm lãi suất đầu ra.

Chí Tín

Đọc thêm

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30