Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét

Tú Anh
(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND bất ngờ tăng mạnh từ đầu tháng 10/2024, dù hạ nhiệt đôi chút sau khi Ngân hàng Nhà nước can thiệp, song hiện vẫn khá căng thẳng, đồng pha với chỉ số DXY liên tục tăng. Những biến động này tương đối bất ngờ với thị trường, dù Fed giảm lãi suất hai lần liên tiếp và chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét tại nhiều quốc gia.
aa
Tỷ giá hôm nay (18/11): Đồng USD trên thị trường thế giới duy trì sức mạnh,“chợ đen” tiếp tục tăng giá

Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày 18/11, tỷ giá trung tâm giữa đồng VND với đồng USD hiện ở mức 24.288 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên giao dịch cuối tuần trước, nhưng vẫn neo ở mức cao kỷ lục kể từ khi cơ chế này được NHNN áp dụng từ đầu năm 2016.

Áp dụng biên độ 5%, hiện tỷ giá USD các ngân hàng thương mại được phép giao dịch nằm trong phạm vi từ 25.502 - 23.073 VND/USD. Tỷ giá tham khảo mua - bán USD tại Sở giao dịch NHNN vẫn được giữ ổn định ở mức 23.400 - 25.450 VND/USD.

Ảnh tư liệu minh họa.
Ảnh minh họa.

Giá bán USD tại các nhà băng chạm trần

Ngày 18/10, hầu hết các ngân hàng lớn đều niêm yết giá bán USD ở mức kỷ lục, đạt mức trần cho phép là 25.502 đồng/USD. Cụ thể, Vietcombank niêm yết giá mua USD ở mức 25.170 VND/USD; bán ra ở mức kịch trần 25.502 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên cuối tuần. BIDV niêm yết giá mua USD ở mức 25.200 VND/USD, giảm 10 đồng trong khi giá bán chạm trần cho phép. Từ đầu năm đến nay, tỷ giá bán USD tại các ngân hàng tăng khoảng 1.100 đồng, tương đương mức tăng 4,4%.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giao dịch ở các điểm thu đổi ở mức 25.660 - 25.760 VND/USD (mua - bán), tăng 60 đồng chiều mua vào và 51 đồng chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước. Kể từ đầu năm, giá USD tự do đã tăng khoảng 940 đồng chiều mua và 990 đồng chiều bán, tương đương mức tăng khoảng 3,8-4%.

Từ cuối tháng 10/2024 đến nay, các ngân hàng liên tục niêm yết giá bán USD sát mức trần cho phép, thậm chí chạm trần.

Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét
Nguồn: Mirae Asset Việt Nam.

Hiện diễn biến trên thị trường tiền tệ quốc tế biến động rất phức tạp. Dù Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng như một số ngân hàng trung ương trên thế giới đang trong chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ, song đồng USD tiếp tục biến động phức tạp, có thời gian giảm rất mạnh nhưng trong quý III/2024 lại tăng lên và hiện nay đang biến động khá lớn.

Lý do tỷ giá bất ngờ bật tăng

Từ tháng 8/2024, lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt cùng việc Fed giảm lãi suất giúp tỷ giá USD/VND giảm 1,5% vào tháng 8 và 1,2% vào tháng 9. Tuy nhiên, tỷ giá đột ngộtquay đầu tăng vào đầu tháng 10/2024, với mức tăng 3,3% và tính từ đầu năm tăng tới 4,5%, đồng pha với diễn biến của chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt thời gian gần đây.

Tỷ giá USD/VND tăng lên trong bối cảnh đồng USD thế giới tăng mạnh. Chỉ số USD Index hiện tăng lên mức 106,7 điểm, neo ở vùng cao nhất trong vòng 1 năm qua dù giảm nhẹ so với mức đỉnh 107 điểm được thiết lập ngày 14/11.

Chứng khoán Vietcap kỳ vọng hai yếu tố sẽ giúp tỷ giá USD/VND hạ nhiệt.

Một là, Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất vào cuối năm nay, phù hợp với dự báo đồng thuận hiện tại của thị trường.

Hai là, nguồn cung ngoại tệ vào Việt Nam tiếp tục dồi dào từ thặng dư thương mại, dòng vốn FDI và kiều hối; đồng thời thâm hụt thương mại dịch vụ ngày càng thu hẹp.

Đồng USD tăng vọt sau khi ông Donald Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ, với nhiều chính sách nổi bật dự kiến áp dụng trong nhiệm kỳ là trục xuất nhập cư trái phép với quy mô lớn, dựng hàng rào thuế quan và cắt giảm thuế để thúc đẩy tăng trưởng, từ đó đẩy lạm phát lên cao, làm giảm khả năng cắt giảm lãi suất và hỗ trợ sức mạnh đồng USD. Các tác động thực tế sẽ hiện hữu vào năm 2025 khi các chính sách mới chính thức phê duyệt và thực thi.

Bên cạnh nguyên do từ chỉ số DXY tăng mạnh, Chứng khoán Vietcap cho rằng, nhu cầu từ Kho bạc Nhà nước để thanh toán khoản nợ trái phiếu quốc tế kỳ hạn 10 năm trị giá 1 tỷ USD đáo hạn vào tháng 11, cùng nhu cầu nhập khẩu hàng hoá mùa vụ cuối năm, khiến nhu cầu ngoại tệ tăng cao.

Ứng phó với biến động

Trong bối cảnh tỷ giá gia tăng, NHNN triển khai chiến lược đa chiều thông qua điều tiết thanh khoản trên thị trường mở, bán USD thông qua hợp đồng giao ngay từ nguồn dự trữ ngoại hối, với giá bán can thiệp là 25.450 đồng kể từ ngày 24/10. Sau đó, tỷ giá USD/VND đứt mạch tăng và trải qua các phiên hạ nhiệt ban đầu những ngày cuối tháng 10/2024, sau đó lại bật tăng và neo ở mức cao đến giữa tháng 11/2024.

Về diễn biến thị trường mở trong phiên ngày 18/11, qua kênh cầm cố, NHNN chào thầu kỳ hạn 7 ngày với khối lượng là 15.000 tỷ đồng, lãi suất giữ ở mức 4%; có 15.000tỷ đồng trúng thầu, có 14.999,96 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Cùng với đó, NHNN chào thầu tín phiếu NHNN 28 ngày, đấu thầu lãi suất, có 400 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất 4%; có 17.750 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, ngày 18/11, NHNN bơm ròng 17.350 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 99.999,77 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 38.350 tỷ đồng tín phiếu NHNN lưu hành trên thị trường. Trước đó, trên thị trường mở tuần qua từ ngày 11-15/11, NHNN bơm ròng 30.949,82 tỷ đồng ra thị trường bằng kênh thị trường mở.

Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét
Tỷ giá chịu thêm sức ép từ thâm hụt cán cân thương mại. Ảnh: TP.

Theo Phòng phân tích Chứng khoán Mirae Asset, hiện áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu do nguồn dự trữ ngoại hối của Việt Nam mỏng đi đáng kể sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp mạnh mẽ vào dự trữ ngoại hối, chặn đà tỷ giá VND/USD giảm sâu giai đoạn tháng 4-7/2024, ước tính NHNN bán ra 6,4 tỷ USD từ nguồn dự trữ ngoại hối.

Thời điểm đó, tỷ giá chịu thêm sức ép từ thâm hụt cán cân thương mại. Cán cân thanh toán tổng thể (BOP) nửa đầu năm 2024 trải qua một cú sốc lớn chuyển sang thâm hụt gần 7,44 tỷ USD từ mức thặng dư gần 4,58 tỷ USD trong kỳ nửa đầu năm 2023. Trong khi cán cân thương mại thặng dư, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn duy trì đà tăng trưởng giúp cán cân vãng lai thặng dư hơn 9,73 tỷ USD.

Tuy nhiên, cán cân tài chính thâm hụt 4,82 tỷ USD cùng một lượng lớn ngoại tệ rút ra khỏi thị trường qua nhiều kênh không chính thức, thể hiện khoản mục lỗi và sai sót âm 12,35 tỷ USD, tăng 34% cùng kỳ.

Kết quả là mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm đáng kể, từ 88 tỷ USD tháng 1/2024 xuống còn khoảng 81 tỷ USD tháng 7/2024, sau khi NHNN can thiệp để ngăn chặn tỷ giá hối đoái VND/USD giảm sâu. Hiện dự trữ ngoại hối duy trì ở mức 2,4 tháng nhập khẩu, thấp hơn tiêu chuẩn 3 tháng mà Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) khuyến nghị.

Yếu tố tâm lý khiến cho điều hành tỷ giá gặp khó

Tại phiên chất vấn trước Quốc hội mới đây, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, việc ổn định thị trường ngoại hối và tỷ giá trong nước là một vấn đề rất khó khăn. Bên cạnh diễn biến trên thị trường tiền tệ quốc tế biến động rất phức tạp, tỷ giá còn phụ thuộc vào cung - cầu thực, tức là cung, cầu về nhu cầu ngoại tệ chi ra cho nền kinh tế và nguồn thu chúng ta có được. Đồng thời, chịu tác động bởi yếu tố tâm lý và kỳ vọng rất nhiều, khi các tổ chức có ngoại tệ không bán, hoặc khi chưa cần ngoại tệ lại mua, gây thách thức cho điều hành.

Tú Anh

Đọc thêm

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 144,200
Hà Nội - PNJ 140,500 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,500 144,200
Miền Tây - PNJ 140,500 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,500 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,150 14,500
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,810 14,410
Trang sức 99.99 13,820 14,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17870 18144 18728
CAD 18169 18445 19061
CHF 31419 31798 32446
CNY 0 3830 3940
EUR 29423 29644 30724
GBP 34401 34792 35743
HKD 0 3190 3392
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14955 15548
SGD 19826 20108 20680
THB 703 766 820
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,910 25,910 26,290
USD(1-2-5) 24,874 - -
USD(10-20) 24,874 - -
EUR 29,511 29,535 30,935
JPY 159.29 159.58 169.21
GBP 34,617 34,711 35,909
AUD 18,076 18,141 18,831
CAD 18,382 18,441 19,122
CHF 31,719 31,818 32,753
SGD 19,957 20,019 20,804
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,258 3,268 3,405
KRW 16.98 17.71 19.26
THB 752.02 761.31 815.11
NZD 14,961 15,100 15,549
SEK - 2,688 2,783
DKK - 3,958 4,098
NOK - 2,702 2,797
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,964.79 - 6,733.82
TWD 731.22 - 885.85
SAR - 6,832.18 7,196.76
KWD - 82,662 87,954
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,900 26,280
EUR 29,548 29,667 30,859
GBP 34,628 34,767 35,799
HKD 3,257 3,270 3,386
CHF 31,553 31,680 32,600
JPY 159.74 160.38 168.25
AUD 18,070 18,143 18,739
SGD 20,027 20,107 20,702
THB 769 772 808
CAD 18,391 18,465 19,054
NZD 15,052 15,596
KRW 17.60 19.57
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25870 25870 26240
AUD 18051 18151 19076
CAD 18341 18441 19455
CHF 31661 31691 33269
CNY 3803.3 3828.3 3963.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29605 29635 31357
GBP 34700 34750 36508
HKD 0 3355 0
JPY 160.22 160.72 171.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15062 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19977 20107 20829
THB 0 732.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 13/08/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80