Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét

Tú Anh
(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND bất ngờ tăng mạnh từ đầu tháng 10/2024, dù hạ nhiệt đôi chút sau khi Ngân hàng Nhà nước can thiệp, song hiện vẫn khá căng thẳng, đồng pha với chỉ số DXY liên tục tăng. Những biến động này tương đối bất ngờ với thị trường, dù Fed giảm lãi suất hai lần liên tiếp và chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét tại nhiều quốc gia.
aa
Tỷ giá hôm nay (18/11): Đồng USD trên thị trường thế giới duy trì sức mạnh,“chợ đen” tiếp tục tăng giá

Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày 18/11, tỷ giá trung tâm giữa đồng VND với đồng USD hiện ở mức 24.288 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên giao dịch cuối tuần trước, nhưng vẫn neo ở mức cao kỷ lục kể từ khi cơ chế này được NHNN áp dụng từ đầu năm 2016.

Áp dụng biên độ 5%, hiện tỷ giá USD các ngân hàng thương mại được phép giao dịch nằm trong phạm vi từ 25.502 - 23.073 VND/USD. Tỷ giá tham khảo mua - bán USD tại Sở giao dịch NHNN vẫn được giữ ổn định ở mức 23.400 - 25.450 VND/USD.

Ảnh tư liệu minh họa.
Ảnh minh họa.

Giá bán USD tại các nhà băng chạm trần

Ngày 18/10, hầu hết các ngân hàng lớn đều niêm yết giá bán USD ở mức kỷ lục, đạt mức trần cho phép là 25.502 đồng/USD. Cụ thể, Vietcombank niêm yết giá mua USD ở mức 25.170 VND/USD; bán ra ở mức kịch trần 25.502 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên cuối tuần. BIDV niêm yết giá mua USD ở mức 25.200 VND/USD, giảm 10 đồng trong khi giá bán chạm trần cho phép. Từ đầu năm đến nay, tỷ giá bán USD tại các ngân hàng tăng khoảng 1.100 đồng, tương đương mức tăng 4,4%.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giao dịch ở các điểm thu đổi ở mức 25.660 - 25.760 VND/USD (mua - bán), tăng 60 đồng chiều mua vào và 51 đồng chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước. Kể từ đầu năm, giá USD tự do đã tăng khoảng 940 đồng chiều mua và 990 đồng chiều bán, tương đương mức tăng khoảng 3,8-4%.

Từ cuối tháng 10/2024 đến nay, các ngân hàng liên tục niêm yết giá bán USD sát mức trần cho phép, thậm chí chạm trần.

Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét
Nguồn: Mirae Asset Việt Nam.

Hiện diễn biến trên thị trường tiền tệ quốc tế biến động rất phức tạp. Dù Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng như một số ngân hàng trung ương trên thế giới đang trong chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ, song đồng USD tiếp tục biến động phức tạp, có thời gian giảm rất mạnh nhưng trong quý III/2024 lại tăng lên và hiện nay đang biến động khá lớn.

Lý do tỷ giá bất ngờ bật tăng

Từ tháng 8/2024, lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt cùng việc Fed giảm lãi suất giúp tỷ giá USD/VND giảm 1,5% vào tháng 8 và 1,2% vào tháng 9. Tuy nhiên, tỷ giá đột ngộtquay đầu tăng vào đầu tháng 10/2024, với mức tăng 3,3% và tính từ đầu năm tăng tới 4,5%, đồng pha với diễn biến của chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt thời gian gần đây.

Tỷ giá USD/VND tăng lên trong bối cảnh đồng USD thế giới tăng mạnh. Chỉ số USD Index hiện tăng lên mức 106,7 điểm, neo ở vùng cao nhất trong vòng 1 năm qua dù giảm nhẹ so với mức đỉnh 107 điểm được thiết lập ngày 14/11.

Chứng khoán Vietcap kỳ vọng hai yếu tố sẽ giúp tỷ giá USD/VND hạ nhiệt.

Một là, Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất vào cuối năm nay, phù hợp với dự báo đồng thuận hiện tại của thị trường.

Hai là, nguồn cung ngoại tệ vào Việt Nam tiếp tục dồi dào từ thặng dư thương mại, dòng vốn FDI và kiều hối; đồng thời thâm hụt thương mại dịch vụ ngày càng thu hẹp.

Đồng USD tăng vọt sau khi ông Donald Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ, với nhiều chính sách nổi bật dự kiến áp dụng trong nhiệm kỳ là trục xuất nhập cư trái phép với quy mô lớn, dựng hàng rào thuế quan và cắt giảm thuế để thúc đẩy tăng trưởng, từ đó đẩy lạm phát lên cao, làm giảm khả năng cắt giảm lãi suất và hỗ trợ sức mạnh đồng USD. Các tác động thực tế sẽ hiện hữu vào năm 2025 khi các chính sách mới chính thức phê duyệt và thực thi.

Bên cạnh nguyên do từ chỉ số DXY tăng mạnh, Chứng khoán Vietcap cho rằng, nhu cầu từ Kho bạc Nhà nước để thanh toán khoản nợ trái phiếu quốc tế kỳ hạn 10 năm trị giá 1 tỷ USD đáo hạn vào tháng 11, cùng nhu cầu nhập khẩu hàng hoá mùa vụ cuối năm, khiến nhu cầu ngoại tệ tăng cao.

Ứng phó với biến động

Trong bối cảnh tỷ giá gia tăng, NHNN triển khai chiến lược đa chiều thông qua điều tiết thanh khoản trên thị trường mở, bán USD thông qua hợp đồng giao ngay từ nguồn dự trữ ngoại hối, với giá bán can thiệp là 25.450 đồng kể từ ngày 24/10. Sau đó, tỷ giá USD/VND đứt mạch tăng và trải qua các phiên hạ nhiệt ban đầu những ngày cuối tháng 10/2024, sau đó lại bật tăng và neo ở mức cao đến giữa tháng 11/2024.

Về diễn biến thị trường mở trong phiên ngày 18/11, qua kênh cầm cố, NHNN chào thầu kỳ hạn 7 ngày với khối lượng là 15.000 tỷ đồng, lãi suất giữ ở mức 4%; có 15.000tỷ đồng trúng thầu, có 14.999,96 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Cùng với đó, NHNN chào thầu tín phiếu NHNN 28 ngày, đấu thầu lãi suất, có 400 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất 4%; có 17.750 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, ngày 18/11, NHNN bơm ròng 17.350 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 99.999,77 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 38.350 tỷ đồng tín phiếu NHNN lưu hành trên thị trường. Trước đó, trên thị trường mở tuần qua từ ngày 11-15/11, NHNN bơm ròng 30.949,82 tỷ đồng ra thị trường bằng kênh thị trường mở.

Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét
Tỷ giá chịu thêm sức ép từ thâm hụt cán cân thương mại. Ảnh: TP.

Theo Phòng phân tích Chứng khoán Mirae Asset, hiện áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu do nguồn dự trữ ngoại hối của Việt Nam mỏng đi đáng kể sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp mạnh mẽ vào dự trữ ngoại hối, chặn đà tỷ giá VND/USD giảm sâu giai đoạn tháng 4-7/2024, ước tính NHNN bán ra 6,4 tỷ USD từ nguồn dự trữ ngoại hối.

Thời điểm đó, tỷ giá chịu thêm sức ép từ thâm hụt cán cân thương mại. Cán cân thanh toán tổng thể (BOP) nửa đầu năm 2024 trải qua một cú sốc lớn chuyển sang thâm hụt gần 7,44 tỷ USD từ mức thặng dư gần 4,58 tỷ USD trong kỳ nửa đầu năm 2023. Trong khi cán cân thương mại thặng dư, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn duy trì đà tăng trưởng giúp cán cân vãng lai thặng dư hơn 9,73 tỷ USD.

Tuy nhiên, cán cân tài chính thâm hụt 4,82 tỷ USD cùng một lượng lớn ngoại tệ rút ra khỏi thị trường qua nhiều kênh không chính thức, thể hiện khoản mục lỗi và sai sót âm 12,35 tỷ USD, tăng 34% cùng kỳ.

Kết quả là mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm đáng kể, từ 88 tỷ USD tháng 1/2024 xuống còn khoảng 81 tỷ USD tháng 7/2024, sau khi NHNN can thiệp để ngăn chặn tỷ giá hối đoái VND/USD giảm sâu. Hiện dự trữ ngoại hối duy trì ở mức 2,4 tháng nhập khẩu, thấp hơn tiêu chuẩn 3 tháng mà Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) khuyến nghị.

Yếu tố tâm lý khiến cho điều hành tỷ giá gặp khó

Tại phiên chất vấn trước Quốc hội mới đây, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, việc ổn định thị trường ngoại hối và tỷ giá trong nước là một vấn đề rất khó khăn. Bên cạnh diễn biến trên thị trường tiền tệ quốc tế biến động rất phức tạp, tỷ giá còn phụ thuộc vào cung - cầu thực, tức là cung, cầu về nhu cầu ngoại tệ chi ra cho nền kinh tế và nguồn thu chúng ta có được. Đồng thời, chịu tác động bởi yếu tố tâm lý và kỳ vọng rất nhiều, khi các tổ chức có ngoại tệ không bán, hoặc khi chưa cần ngoại tệ lại mua, gây thách thức cho điều hành.

Tú Anh

Đọc thêm

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80