Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét

Tú Anh
(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND bất ngờ tăng mạnh từ đầu tháng 10/2024, dù hạ nhiệt đôi chút sau khi Ngân hàng Nhà nước can thiệp, song hiện vẫn khá căng thẳng, đồng pha với chỉ số DXY liên tục tăng. Những biến động này tương đối bất ngờ với thị trường, dù Fed giảm lãi suất hai lần liên tiếp và chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét tại nhiều quốc gia.
aa
Tỷ giá hôm nay (18/11): Đồng USD trên thị trường thế giới duy trì sức mạnh,“chợ đen” tiếp tục tăng giá

Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày 18/11, tỷ giá trung tâm giữa đồng VND với đồng USD hiện ở mức 24.288 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên giao dịch cuối tuần trước, nhưng vẫn neo ở mức cao kỷ lục kể từ khi cơ chế này được NHNN áp dụng từ đầu năm 2016.

Áp dụng biên độ 5%, hiện tỷ giá USD các ngân hàng thương mại được phép giao dịch nằm trong phạm vi từ 25.502 - 23.073 VND/USD. Tỷ giá tham khảo mua - bán USD tại Sở giao dịch NHNN vẫn được giữ ổn định ở mức 23.400 - 25.450 VND/USD.

Ảnh tư liệu minh họa.
Ảnh minh họa.

Giá bán USD tại các nhà băng chạm trần

Ngày 18/10, hầu hết các ngân hàng lớn đều niêm yết giá bán USD ở mức kỷ lục, đạt mức trần cho phép là 25.502 đồng/USD. Cụ thể, Vietcombank niêm yết giá mua USD ở mức 25.170 VND/USD; bán ra ở mức kịch trần 25.502 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên cuối tuần. BIDV niêm yết giá mua USD ở mức 25.200 VND/USD, giảm 10 đồng trong khi giá bán chạm trần cho phép. Từ đầu năm đến nay, tỷ giá bán USD tại các ngân hàng tăng khoảng 1.100 đồng, tương đương mức tăng 4,4%.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giao dịch ở các điểm thu đổi ở mức 25.660 - 25.760 VND/USD (mua - bán), tăng 60 đồng chiều mua vào và 51 đồng chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước. Kể từ đầu năm, giá USD tự do đã tăng khoảng 940 đồng chiều mua và 990 đồng chiều bán, tương đương mức tăng khoảng 3,8-4%.

Từ cuối tháng 10/2024 đến nay, các ngân hàng liên tục niêm yết giá bán USD sát mức trần cho phép, thậm chí chạm trần.

Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét
Nguồn: Mirae Asset Việt Nam.

Hiện diễn biến trên thị trường tiền tệ quốc tế biến động rất phức tạp. Dù Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng như một số ngân hàng trung ương trên thế giới đang trong chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ, song đồng USD tiếp tục biến động phức tạp, có thời gian giảm rất mạnh nhưng trong quý III/2024 lại tăng lên và hiện nay đang biến động khá lớn.

Lý do tỷ giá bất ngờ bật tăng

Từ tháng 8/2024, lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt cùng việc Fed giảm lãi suất giúp tỷ giá USD/VND giảm 1,5% vào tháng 8 và 1,2% vào tháng 9. Tuy nhiên, tỷ giá đột ngộtquay đầu tăng vào đầu tháng 10/2024, với mức tăng 3,3% và tính từ đầu năm tăng tới 4,5%, đồng pha với diễn biến của chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt thời gian gần đây.

Tỷ giá USD/VND tăng lên trong bối cảnh đồng USD thế giới tăng mạnh. Chỉ số USD Index hiện tăng lên mức 106,7 điểm, neo ở vùng cao nhất trong vòng 1 năm qua dù giảm nhẹ so với mức đỉnh 107 điểm được thiết lập ngày 14/11.

Chứng khoán Vietcap kỳ vọng hai yếu tố sẽ giúp tỷ giá USD/VND hạ nhiệt.

Một là, Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất vào cuối năm nay, phù hợp với dự báo đồng thuận hiện tại của thị trường.

Hai là, nguồn cung ngoại tệ vào Việt Nam tiếp tục dồi dào từ thặng dư thương mại, dòng vốn FDI và kiều hối; đồng thời thâm hụt thương mại dịch vụ ngày càng thu hẹp.

Đồng USD tăng vọt sau khi ông Donald Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ, với nhiều chính sách nổi bật dự kiến áp dụng trong nhiệm kỳ là trục xuất nhập cư trái phép với quy mô lớn, dựng hàng rào thuế quan và cắt giảm thuế để thúc đẩy tăng trưởng, từ đó đẩy lạm phát lên cao, làm giảm khả năng cắt giảm lãi suất và hỗ trợ sức mạnh đồng USD. Các tác động thực tế sẽ hiện hữu vào năm 2025 khi các chính sách mới chính thức phê duyệt và thực thi.

Bên cạnh nguyên do từ chỉ số DXY tăng mạnh, Chứng khoán Vietcap cho rằng, nhu cầu từ Kho bạc Nhà nước để thanh toán khoản nợ trái phiếu quốc tế kỳ hạn 10 năm trị giá 1 tỷ USD đáo hạn vào tháng 11, cùng nhu cầu nhập khẩu hàng hoá mùa vụ cuối năm, khiến nhu cầu ngoại tệ tăng cao.

Ứng phó với biến động

Trong bối cảnh tỷ giá gia tăng, NHNN triển khai chiến lược đa chiều thông qua điều tiết thanh khoản trên thị trường mở, bán USD thông qua hợp đồng giao ngay từ nguồn dự trữ ngoại hối, với giá bán can thiệp là 25.450 đồng kể từ ngày 24/10. Sau đó, tỷ giá USD/VND đứt mạch tăng và trải qua các phiên hạ nhiệt ban đầu những ngày cuối tháng 10/2024, sau đó lại bật tăng và neo ở mức cao đến giữa tháng 11/2024.

Về diễn biến thị trường mở trong phiên ngày 18/11, qua kênh cầm cố, NHNN chào thầu kỳ hạn 7 ngày với khối lượng là 15.000 tỷ đồng, lãi suất giữ ở mức 4%; có 15.000tỷ đồng trúng thầu, có 14.999,96 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Cùng với đó, NHNN chào thầu tín phiếu NHNN 28 ngày, đấu thầu lãi suất, có 400 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất 4%; có 17.750 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, ngày 18/11, NHNN bơm ròng 17.350 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 99.999,77 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 38.350 tỷ đồng tín phiếu NHNN lưu hành trên thị trường. Trước đó, trên thị trường mở tuần qua từ ngày 11-15/11, NHNN bơm ròng 30.949,82 tỷ đồng ra thị trường bằng kênh thị trường mở.

Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét
Tỷ giá chịu thêm sức ép từ thâm hụt cán cân thương mại. Ảnh: TP.

Theo Phòng phân tích Chứng khoán Mirae Asset, hiện áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu do nguồn dự trữ ngoại hối của Việt Nam mỏng đi đáng kể sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp mạnh mẽ vào dự trữ ngoại hối, chặn đà tỷ giá VND/USD giảm sâu giai đoạn tháng 4-7/2024, ước tính NHNN bán ra 6,4 tỷ USD từ nguồn dự trữ ngoại hối.

Thời điểm đó, tỷ giá chịu thêm sức ép từ thâm hụt cán cân thương mại. Cán cân thanh toán tổng thể (BOP) nửa đầu năm 2024 trải qua một cú sốc lớn chuyển sang thâm hụt gần 7,44 tỷ USD từ mức thặng dư gần 4,58 tỷ USD trong kỳ nửa đầu năm 2023. Trong khi cán cân thương mại thặng dư, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn duy trì đà tăng trưởng giúp cán cân vãng lai thặng dư hơn 9,73 tỷ USD.

Tuy nhiên, cán cân tài chính thâm hụt 4,82 tỷ USD cùng một lượng lớn ngoại tệ rút ra khỏi thị trường qua nhiều kênh không chính thức, thể hiện khoản mục lỗi và sai sót âm 12,35 tỷ USD, tăng 34% cùng kỳ.

Kết quả là mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm đáng kể, từ 88 tỷ USD tháng 1/2024 xuống còn khoảng 81 tỷ USD tháng 7/2024, sau khi NHNN can thiệp để ngăn chặn tỷ giá hối đoái VND/USD giảm sâu. Hiện dự trữ ngoại hối duy trì ở mức 2,4 tháng nhập khẩu, thấp hơn tiêu chuẩn 3 tháng mà Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) khuyến nghị.

Yếu tố tâm lý khiến cho điều hành tỷ giá gặp khó

Tại phiên chất vấn trước Quốc hội mới đây, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, việc ổn định thị trường ngoại hối và tỷ giá trong nước là một vấn đề rất khó khăn. Bên cạnh diễn biến trên thị trường tiền tệ quốc tế biến động rất phức tạp, tỷ giá còn phụ thuộc vào cung - cầu thực, tức là cung, cầu về nhu cầu ngoại tệ chi ra cho nền kinh tế và nguồn thu chúng ta có được. Đồng thời, chịu tác động bởi yếu tố tâm lý và kỳ vọng rất nhiều, khi các tổ chức có ngoại tệ không bán, hoặc khi chưa cần ngoại tệ lại mua, gây thách thức cho điều hành.

Tú Anh

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tới 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng.
OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ tối đa thêm gần 3.994,6 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 30.625 tỷ đồng. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh OCB lần đầu vượt mốc dư nợ cho vay 200.000 tỷ đồng và đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số dưới sự điều hành của quyền Tổng Giám đốc mới, chuyên gia về AI.
Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

(TBTCO) - Nhằm thúc đẩy nộp thuế điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, ngày 3/6/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp cùng Cục Thuế tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số. Đây là hoạt động trọng điểm nhằm hưởng ứng Ngày Tài chính số năm 2026 và hiện thực hóa Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
BAC A BANK tiếp tục phát hành trái phiếu ra công chúng - thu hút khách hàng tích lũy an toàn, sinh lời tối ưu

BAC A BANK tiếp tục phát hành trái phiếu ra công chúng - thu hút khách hàng tích lũy an toàn, sinh lời tối ưu

(TBTCO) - Nhằm đa dạng hóa kênh đầu tư và tối đa lợi ích tới khách hàng, từ ngày 8/6/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - đợt 4 với tổng giá trị chào bán 1.500 tỷ đồng.
Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

(TBTCO) - PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng là tín hiệu cho thấy phải ưu tiên chất lượng tăng trưởng. Kiểm soát tốt chất lượng tài sản, ưu tiên các giải pháp trọng tâm giúp hệ thống ngân hàng có nền tảng lành mạnh hơn để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao những năm tới, mà không tạo ra rủi ro tài chính lớn về sau.
“Gạn đục khơi trong” tín dụng bất động sản, ngân hàng và doanh nghiệp nào hưởng lợi?

“Gạn đục khơi trong” tín dụng bất động sản, ngân hàng và doanh nghiệp nào hưởng lợi?

Chính sách tín dụng bất động sản mới của Ngân hàng Nhà nước được Chứng khoán Mirae Asset đánh giá là cách tiếp cận “gạn đục khơi trong”, khuyến khích đẩy vốn vào nhà ở xã hội và khu công nghiệp, trong khi vẫn kiểm soát bất động sản thương mại và đầu cơ.
UOB đẩy mạnh kết nối dòng vốn quốc tế, nghiên cứu tham gia Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

UOB đẩy mạnh kết nối dòng vốn quốc tế, nghiên cứu tham gia Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng UOB tái khẳng định cam kết đồng hành cùng hành trình phát triển của Việt Nam, thông qua việc thúc đẩy thương mại xuyên biên giới, hỗ trợ dòng vốn FDI và giúp doanh nghiệp trong nước phát triển bền vững. Ngân hàng cũng lên kế hoạch xây dựng trụ sở mới tại TP. Hồ Chí Minh và nghiên cứu khả năng tham gia Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam.
Bộ đệm dự phòng mỏng nhất từ năm 2018 giữa áp lực nợ xấu gia tăng

Bộ đệm dự phòng mỏng nhất từ năm 2018 giữa áp lực nợ xấu gia tăng

(TBTCO) - Báo cáo của VPBankS cho thấy, áp lực trích lập dự phòng tại các ngân hàng có dấu hiệu quay lại khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành giảm xuống 79,7%, mức thấp nhất kể từ năm 2018. Trong quý I/2026, nhiều ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng mạnh so với cuối năm 2025, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất ở mức cao.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,900 ▼100K 15,300 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,850 ▼100K 15,250 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,780 ▼100K 15,230 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 153,000 ▼1000K 156,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 153,000 ▼1000K 156,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 153,000 ▼1000K 156,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 153,000 ▼1000K 156,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 153,000 ▼1000K 156,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 153,000 ▼1000K 156,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,300 ▼100K 15,600 ▼100K
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 14,790 ▼100K 15,490 ▼100K
Trang sức 99.99 14,800 ▼100K 15,500 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 153 ▼1K 15,602 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 153 ▼1K 15,603 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,528 ▼10K 1,558 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,528 ▼10K 1,559 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,508 ▼10K 1,543 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 146,272 ▼990K 152,772 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 106,987 ▼750K 115,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 96,184 ▼681K 105,084 ▼681K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 85,382 ▼610K 94,282 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 81,216 ▼583K 90,116 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 556 ▼55461K 645 ▼64272K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 153 ▼1K 156 ▼1K
Cập nhật: 04/06/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18253 18528 19105
CAD 18409 18686 19305
CHF 32704 33088 33730
CNY 0 3846 3939
EUR 29990 30263 31297
GBP 34592 34984 35925
HKD 0 3230 3433
JPY 157 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15160 15746
SGD 19976 20259 20779
THB 721 784 838
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26402
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,122 26,122 26,402
USD(1-2-5) 25,078 - -
USD(10-20) 25,078 - -
EUR 30,114 30,138 31,453
JPY 160.54 160.83 169.86
GBP 34,791 34,885 35,961
AUD 18,477 18,544 19,170
CAD 18,620 18,680 19,293
CHF 32,952 33,054 33,902
SGD 20,132 20,195 20,909
CNY - 3,819 3,950
HKD 3,299 3,309 3,434
KRW 15.9 16.58 17.96
THB 770.07 779.58 831.66
NZD 15,156 15,297 15,691
SEK - 2,764 2,851
DKK - 4,029 4,155
NOK - 2,783 2,870
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,139.96 - 6,902.84
TWD 755.32 - 911.47
SAR - 6,907.7 7,247.99
KWD - 83,653 88,660
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,132 26,402
EUR 29,987 30,107 31,296
GBP 34,705 34,844 35,864
HKD 3,290 3,303 3,420
CHF 32,704 32,835 33,758
JPY 160.75 161.40 168.94
AUD 18,408 18,482 19,077
SGD 20,163 20,244 20,830
THB 785 788 823
CAD 18,599 18,674 19,243
NZD 15,197 15,735
KRW 16.53 18.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26168 26168 26402
AUD 18435 18535 19457
CAD 18589 18689 19703
CHF 32930 32960 34539
CNY 3826.7 3851.7 3987.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30157 30187 31912
GBP 34876 34926 36684
HKD 0 3355 0
JPY 161.19 161.69 172.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15262 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20135 20265 20993
THB 0 751.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15300000 15300000 15600000
SBJ 13000000 13000000 15600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,210 26,402
USD20 26,160 26,210 26,402
USD1 23,888 26,210 26,402
AUD 18,463 18,563 19,750
EUR 30,261 30,261 31,687
CAD 18,545 18,645 19,964
SGD 20,214 20,364 20,936
JPY 161.66 163.16 167.8
GBP 34,737 35,087 35,985
XAU 15,398,000 0 15,702,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/06/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80