Thị trường tiền tệ tuần 15 – 19/5:

Kỳ vọng công cuộc chuyển đổi số ngân hàng, lộ trình giảm lãi suất vẫn gian nan

Chí Tín
(TBTCO) - Tâm điểm của thị trường tiền tệ trong nước tuần vừa rồi là sự kiện chuyển đổi số ngành ngân hàng, điều này mở ra kỳ vọng sẽ có những đổi mới toàn diện trong ứng dụng công nghệ, qua đó tạo động lực phát triển cho ngân hàng và nền kinh tế. Về thị trường tài sản, diễn biến đáng chú ý là những biến động của giá vàng, xu hướng giá vàng đang khá yếu sau những ảnh hưởng của đồng USD mạnh lên và những dự báo mới về việc FED có thể còn tiếp tục tăng lãi suất.
aa

Kỳ vọng động lực từ chuyển đổi số ngân hàng

Sự kiện chuyển đổi số ngân hàng diễn ra hôm 18/5 với chủ đề “Ứng dụng dữ liệu dân cư trong hoạt động ngân hàng - động lực thúc đẩy chuyển đổi số”. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, chủ đề này nhấn mạnh, khẳng định sự quyết tâm của ngành ngân hàng trong việc tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ tại Đề án 06 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030).

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái cho biết, Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số đã xác định chủ đề năm 2023 là “Năm quốc gia về dữ liệu số”. Trong đó, tài chính - ngân hàng được xác định là một trong các lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số do có thể thay đổi nhận thức nhanh nhất, giúp tiết kiệm chi phí và mang lại hiệu quả xã hội cao.

Kỳ vọng công cuộc chuyển đổi số ngân hàng, lộ trình giảm lãi suất vẫn gian nan
Chuyển đổi số ngân hàng được kỳ vọng sẽ tạo động lực chung cho nền kinh tế. Ảnh: C.T
Chuyển đổi số - không chỉ là câu chuyện của ngân hàng Giá vàng hôm nay (19/5): Vàng trong nước và thế giới đều giảm mạnh

Vẫn còn gian nan trong lộ trình giảm lãi suất

Trong tuần qua, NHNN đã có thông tin chia sẻ về tình hình thực hiện chính sách tiền tệ thời gian qua. Trong đó về nghiệp vụ thị trường mở, từ đầu tháng 3/2023, để thực hiện mục tiêu tăng cung tiền, giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã tăng khối lượng và kéo dài kỳ hạn chào mua giấy tờ có giá hàng ngày để phát tín hiệu sẵn sàng cung ứng vốn cho thị trường tiền tệ. Với việc điều hành nghiệp vụ thị trường mở và sẵn sàng cung ứng thanh khoản kết hợp với việc NHNN điều chỉnh giảm lãi suất chào mua giấy tờ có giá từ mức 6,0%/năm xuống mức 5,5%/năm (từ ngày 15/3/2023) và giảm xuống mức 5,0%/năm (từ ngày 3/4/2023). Vốn khả dụng của các tổ chức tín dung được đảm bảo và thường trong tình trạng dư thừa (số dư tiền gửi của hệ thống tổ chức tín dụng tại NHNN liên tục vượt số dư dự trữ bắt buộc).

Lãi suất cho vay đã giảm khoảng 0,65% so với cuối năm 2022

NHNN cho biết, về lãi suất ngoài thị trường, lãi suất tiền gửi bình quân phát sinh mới của các ngân hàng thương mại hiện ở mức khoảng 6,3%/năm (giảm 0,18%/năm so với cuối năm 2022). Lãi suất cho vay bình quân VND phát sinh mới của các ngân hàng ở mức khoảng 9,3%/năm (giảm 0,65%/năm so với cuối năm 2022).

Tuy nhiên, trước nhiều ý kiến cho rằng mặt bằng lãi suất còn còn cao, NHNN cho biết, hệ thống ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn (khoảng 88% tiền gửi là kỳ hạn 12 tháng trở xuống) nhưng vẫn phải đáp ứng các nhu cầu cho vay trung dài hạn (trên 52% dư nợ tín dụng VND của hệ thống là trung dài hạn) nên đã tạo sức ép lên lãi suất huy động. Đồng thời, áp lực gia tăng lãi suất luôn tồn tại do Việt Nam có độ mở kinh tế lớn, biến động của thị trường tài chính, tiền tệ thế giới tác động nhanh và mạnh lên lãi suất, tỷ giá trong nước.

Giá vàng biến động mạnh

Giá vàng trong tuần qua đã có những biến động mạnh, mặc dù có một số phiên tăng điểm đầu tuần, nhưng sau đó lại quay đầu giảm mạnh vào cuối tuần.

Hai ngày đầu tuần, giá vàng miếng 9999 do Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) công bố điều chỉnh tăng ở chiều mua vào, đến sáng 16/5 niêm yết ở mức 66,65 triệu đồng/lượng mua vào và 67,25 triệu đồng/lượng bán ra. Tiếp sau đó, giá vàng giảm hôm 17/5 và tăng vào hôm 18/5 trước khi quay đầu giảm mạnh vào sáng ngày 19/5.

Kỳ vọng công cuộc chuyển đổi số ngân hàng, lộ trình giảm lãi suất vẫn gian nan
Có nhiều yếu tố mới ảnh hưởng tiêu cực đến giá vàng. Ảnh: T.L

Chiều 19/5 giá vàng phục hồi so với sáng, giá vàng do Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) công bố ở mức 66,6 triệu đồng mỗi lượng mua vào - bằng với giá niêm yết buổi sáng và 67,2 triệu đồng mỗi lượng bán ra - tăng 100 nghìn đồng mỗi lượng so với buổi sáng.

Giá vàng nhẫn SJC 9999 loại 1 chỉ trở lên sau khi giảm mạnh tới 400 nghìn đồng mỗi lượng vào buổi sáng so với sáng hôm trước đã quay đầu phục hồi 150 nghìn đồng mỗi lượng, về mức 55,85 triệu đồng/lượng mua vào và 56,85 triệu đồng/lượng bán ra.

Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay chiều ngày 15/5 theo giờ Việt Nam trên sàn Kitco ghi nhận ở mức 1.967 USD/ounce, phục hồi khoảng 12 USD sau khi giảm mạnh vào buổi sáng.

Mặc dù thị trường thế giới và cả trong nước và thế giới đã có động thái phục hồi vào chiều ngày 19/5, nhưng diễn biến chung tuần qua vẫn cho thấy xu hướng đi xuống của giá vàng. Có 2 yếu tố khiến cho vàng bị bán ra trong tuần qua, một là chỉ số USD giao dịch gần mức cao nhất trong 7 tuần khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, một số dự báo đã được thay đổi về quan điểm của Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED), khi khả năng tiếp tục có đợt lãi suất có thể vẫn diễn ra, thay vì nhiều dự báo trước đó cho rằng FED sẽ dừng tăng lãi suất sau đợt tăng đầu tháng 5 vừa qua.

Phối hợp giữa công an và ngân hàng triển khai ứng dụng xác thực khách hàng

Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06 - Bộ Công an) cũng cho biết đã thành lập nhóm nhiệm vụ ứng dụng tài khoản định danh điện tử VneID, trong đó đang phối hợp với 5 ngân hàng (BIDV, Vietcombank, Vietinbank, Pvcombank, VIB) triển khai thí điểm giải pháp định danh, xác thực khách hàng trực tuyến thông qua ứng dụng VNeID tiến tới cung cấp toàn bộ dịch vụ xác thực thông tin công dân phục vụ nghiệp vụ ngành ngân hàng. Ngoài ra, định đanh diện tử còn tích hợp các công cụ số khác như: Chữ ký số công cộng, sim thuê bao, ví điện tử, hợp đồng điện tử… từng bước hoàn thiện hệ sinh thái công dân số.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
Giá vàng hôm nay ngày 28/3: Giá vàng tăng nhẹ từ 100.000 - 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/3: Giá vàng tăng nhẹ từ 100.000 - 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 28/3 tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh phổ biến 100.000 - 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 27/3 đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch về quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng, với mức giảm phổ biến từ 2 đến hơn 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi lên tính đến sáng ngày 26/3. Cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 170 - 175 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,250 ▼120K 17,550 ▼120K
Kim TT/AVPL 17,260 ▼120K 17,560 ▼120K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,250 ▼120K 17,550 ▼120K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼120K 16,000 ▼120K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼120K 15,950 ▼120K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,750 ▼120K 17,050 ▼120K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,700 ▼120K 17,000 ▼120K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,630 ▼120K 16,980 ▼120K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,350 ▼20K 17,650 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 17,350 ▼20K 17,650 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 17,350 ▼20K 17,650 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 17,650
NL 99.90 15,820 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼50K
Trang sức 99.9 16,840 17,540
Trang sức 99.99 16,850 17,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,735 ▼2K 17,652 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,735 ▼2K 17,653 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,733 ▼2K 1,763 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,733 ▼2K 1,764 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,713 ▼2K 1,748 ▲1573K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,569 ▼198K 173,069 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,363 ▼150K 131,263 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,126 ▼136K 119,026 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 97,889 ▼122K 106,789 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,169 ▼116K 102,069 ▼116K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,149 ▼83K 73,049 ▼83K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,735 ▼2K 1,765 ▼2K
Cập nhật: 02/04/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17625 17898 18473
CAD 18424 18701 19320
CHF 32408 32791 33455
CNY 0 3470 3830
EUR 29808 30080 31113
GBP 34118 34508 35450
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14769 15356
SGD 19941 20224 20751
THB 720 784 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 30,001 30,025 31,267
JPY 161.35 161.64 170.34
GBP 34,397 34,490 35,472
AUD 17,891 17,956 18,527
CAD 18,621 18,681 19,257
CHF 32,757 32,859 33,634
SGD 20,105 20,168 20,828
CNY - 3,796 3,914
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.07 16.76 18.12
THB 770.63 780.15 830.15
NZD 14,799 14,936 15,292
SEK - 2,749 2,831
DKK - 4,015 4,131
NOK - 2,663 2,741
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,136.7 - 6,887.11
TWD 743.4 - 895.05
SAR - 6,894.82 7,219.16
KWD - 83,538 88,339
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,943 30,063 31,240
GBP 34,385 34,523 35,524
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,583 32,714 33,636
JPY 161.88 162.53 169.85
AUD 17,861 17,933 18,518
SGD 20,165 20,246 20,824
THB 788 791 825
CAD 18,633 18,708 19,272
NZD 14,880 15,408
KRW 16.69 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26362
AUD 17826 17926 18862
CAD 18615 18715 19735
CHF 32717 32747 34359
CNY 3771.9 3796.9 3932.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30027 30057 31783
GBP 34476 34526 36281
HKD 0 3355 0
JPY 162.2 162.7 173.21
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14898 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20133 20263 20985
THB 0 750.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17300000 17300000 17800000
SBJ 16000000 16000000 17800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,362
USD20 26,165 26,215 26,362
USD1 23,852 26,215 26,362
AUD 17,884 17,984 19,101
EUR 30,180 30,180 31,609
CAD 18,567 18,667 19,982
SGD 20,209 20,359 20,929
JPY 162.67 164.17 168.85
GBP 34,370 34,720 35,618
XAU 17,368,000 0 17,672,000
CNY 0 3,681 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80