Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23.12:

Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh, tỷ giá ổn định

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần này, lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn đã giảm mạnh. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục phát đi thông điệp điều hành để định hướng cho việc giảm lãi suất. Trong khi đó, tỷ giá vẫn giữ ổn định cũng là một trong những yếu tố nền tảng quan trọng cho kỳ vọng giảm lãi suất thấp hơn trong thời gian tới.
aa

Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh

Trong tuần, lãi suất cho vay qua đêm tại thị trường liên ngân hàng giảm xuống chỉ còn 3,94% và lãi suất kỳ hạn 1 tuần tại thị trường này chỉ còn 4,85%. Mức lãi suất này đã giảm thấp hơn khá nhiều so với lãi suất bình quân thị trường liên ngân hàng thời điểm trước đó 1 tuần, khi lãi suất qua đêm tuần trước ở mức 5,27% và lãi suất 1 tuần là 6,06%.

Diễn biến hạ nhiệt của lãi suất liên ngân hàng củng cố lòng tin về năng lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã được tăng cường và đây là yếu tố thuận cho kỳ vọng lãi suất huy động và cho vay cũng có thể giảm trong thời gian tới.

Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh, tỷ giá ổn định
Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh cho thấy năng lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang diễn biến tích cực. Ảnh: T.L

Xử lý mạnh tay những ngân hàng tăng lãi suất

Một động thái đáng quan tâm khác trên thị trường tiền tệ tuần qua là việc NHNN tuyên bố khá quyết liệt khi cho biết sẽ theo dõi sát diễn biến thị trường và có biện pháp xử lý với các ngân hàng tăng lãi suất. Đồng thời, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, thủ tục hành chính, các khoản chi không cần thiết để có dư địa phấn đấu giảm lãi suất cho vay.

Bất động sản không bị “bỏ rơi”

NHNN dù tiếp tục nhắc nhở các ngân hàng tập trung cấp tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, nhưng không “bở rơi” bất động sản. Theo đó, tín dụng có thể cho vay đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân và các dự án bất động sản nhà ở sắp hoàn thành xây dựng và bàn giao có khả năng trả nợ vay đầy đủ và đúng hạn, đảm bảo tính pháp lý, có thanh khoản tốt.

Nguồn vốn cũng định hướng tập trung các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu); xây dựng khu công nghiệp; nhà ở xã hội…

Cũng trong diễn biến tiền tệ thời gian qua, đã có thêm nhiều ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay cho khách hàng, với mức giảm trung bình từ khoảng 0,5 – 3%. Đây là động thái của các ngân hàng thương mại nhằm thực hiện cam kết tại cuộc họp của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) diễn ra hồi giữa tháng 12/2022.

Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh, tỷ giá ổn định
Thông điệp của NHNN cho thấy có hướng mở cho bất động sản. Ảnh: T.L

Tỷ giá tiếp tục giữ ổn định

Tỷ giá tuần qua vẫn giữ trạng thái ổn định. Tỷ giá tham khảo của Sở giao dịch NHNN giữ cố định trong suốt các ngày trong tuần, tỷ giá USD trung tâm được NHNN điều chỉnh giảm nhẹ qua từng phiên. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại có phiên tăng, phiên giảm, nhưng không có biến động lớn. Đến thời điểm cuối tuần, tỷ giá USD trung tâm còn 23.631 đồng/USD, giảm 19 đồng mỗi USD so với cách đó 1 tuần.

Trong khi đó, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank đã có biến động mạnh hơn so với tỷ giá trung tâm, với các phiên tăng giảm xen kẽ nhau trong tuần. Mặc dù vậy, mặt bằng tỷ giá tại Vietcombank trong ngày thứ sáu cuối tuần cũng vẫn ở mức xấp xỉ hôm thứ hai đầu tuần, ghi nhận các mức giá là 23.490/23.520/23.800 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra).

Hiện nay, diễn biến ổn định của tỷ giá sẽ vẫn tiếp tục là nền tảng quan trọng trong việc điều hành lãi suất cũng như mức cung tiền nội tệ của NHNN. Nguồn cung USD dồi dào có thể cho phép NHNN đưa tiền nội tệ ra mua USD bổ sung tăng lượng dự trữ ngoại hối của NHNN, vừa giúp tăng cung tiền VND tạo điều kiện cho lãi suất đồng nội tệ có thể có cơ sở để giảm nhiệt trong thời gian tới.

Giá vàng giảm, nhưng không nhiều

Diễn biến chung trong tuần cho thấy xu hướng chủ đạo của giá vàng trong tuần là giảm, nhưng mức giảm khá nhẹ.

Đầu tuần, giá vàng giữ ổn định so với cuối tuần trước với mức giá giao dịch vàng SJC tại Hà Nội là 66,2 triệu đồng/lượng mua vào và 67,02 triệu đồng/lượng bán ra. Trong tuần, giá vàng giảm vào hôm thứ ba, tăng vào hôm thứ tư trước khi giảm liên tục 2 ngày cuối tuần.

Cuối tuần, giá vàng SIC tại Hà Nội ghi nhận mức giá 65,9 triệu đồng mua vào và 66,72 triệu đồng/lượng bán ra. Mặt bằng giá tại hôm cuối tuần theo đó giảm khoảng 300.000 đồng/lượng so với giá hôm đầu tuần.

Diễn biến giá vàng trong nước giảm trong tuần do ảnh hưởng việc giá vàng thế giới có xu hướng giảm thời gian qua. Một trong những nguyên nhân khiến nhà đầu tư rút bớt vốn khỏi vàng là tín hiệu phục hồi của nền kinh tế Mỹ, đồng thời nhu nhu cầu tiêu dùng cũng có tín hiệu gia tăng. Ngoài ra, động thái tăng lãi suất của Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED) dù đã chậm lại, nhưng vẫn được dự báo chưa dừng lại hẳn và sẽ còn tiếp tục kéo dài đến giữa năm 2023. Do đó một khi lãi suất đồng USD vẫn còn tăng, thì đồng USD có thể vẫn có thể có yếu tố tăng giá so với vàng.

Quan tâm kiểm soát rủi ro tín dụng

NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng quan tâm kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng đối với hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như đầu tư, kinh doanh chứng khoán, lĩnh vực bất động sản, đặc biệt là cấp tín dụng với mục đích đầu tư, kinh doanh bất động sản. Trong đó, các ngân hàng phải kiểm soát mức độ tập trung tín dụng vào một số khách hàng/nhóm khách hàng lớn, các dự án có quy mô lớn, phân khúc cao cấp...

Chí Tín

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

(TBTCO) - Sáng 30/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 14 đồng lên 25.320 đồng/USD, tiếp tục lập vùng cao nhất từ trước đến nay, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại giảm nhẹ. Chỉ số DXY phục hồi lên 100,87 điểm sau quyết định giữ nguyên lãi suất của Fed, song thị trường vẫn kỳ vọng Fed có thể tăng lãi suất một lần trước cuối năm.
Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu "diều hâu"

Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu "diều hâu"

(TBTCO) - Fed giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 3,5% - 3,75% trong kỳ họp thứ 5 liên tiếp, nhưng kết quả biểu quyết 9 - 3 với ba thành viên ủng hộ tăng thêm 0,25 điểm phần trăm phát đi tín hiệu chính sách vẫn nghiêng về hướng "diều hâu". Lạm phát còn cao hơn mục tiêu 2%, để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt nếu áp lực giá cả chưa giảm như kỳ vọng.
Tỷ giá USD hôm nay (29/7): Tỷ giá trung tâm neo ở đỉnh lịch sử, thị trường chờ tín hiệu từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/7): Tỷ giá trung tâm neo ở đỉnh lịch sử, thị trường chờ tín hiệu từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/7, tỷ giá trung tâm giữ nguyên mức 25.306 đồng, neo ở vùng đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm mạnh, nới rộng khoảng cách với các ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 101,39 điểm trước thềm cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), thị trường vẫn thận trọng và nghiêng về kịch bản giữ nguyên lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (28/7): Tỷ giá trung tâm vượt đỉnh lịch sử, DXY duy trì vùng cao trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (28/7): Tỷ giá trung tâm vượt đỉnh lịch sử, DXY duy trì vùng cao trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 28/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.306 đồng, tăng 13 đồng so với cuối tuần trước và chính thức vượt đỉnh lịch sử 25.298 đồng thiết lập ngày 25/8/2025. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,05% lên 101,51 điểm, duy trì vùng cao. Thị trường hiện tập trung vào cuộc họp của Fed, đặc biệt là phát biểu của Chủ tịch Fed trong bối cảnh giá năng lượng giảm đang hỗ trợ hạ nhiệt lạm phát.
Tỷ giá USD hôm nay (27/7): USD tăng đầu tuần, kỳ vọng nhiều ngân hàng trung ương giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (27/7): USD tăng đầu tuần, kỳ vọng nhiều ngân hàng trung ương giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 27/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lên 25.293 đồng trong phiên đầu tuần, trong bối cảnh chỉ số DXY vẫn duy trì trên mốc 110 điểm. Thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cùng giữ nguyên lãi suất, khi giá dầu lao dốc hơn 5% nhờ kỳ vọng căng thẳng tại Trung Đông hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80