Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/12:

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm tiếp đà giảm thấp

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần này, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm tiếp tục giảm thấp hơn tuần trước, nhưng lãi suất kỳ hạn 1 tuần có xu hướng nhích tăng. Tỷ giá vẫn trong xu hướng giảm, kèm theo thông tin tích cực từ cán cân thương mại.
aa

Lãi suất qua đêm tiếp tục giảm thấp

Trong tuần qua, lãi suất cho vay qua đêm tại thị trường liên ngân hàng tiếp tục xu hướng giảm thấp hơn nữa sau khi đã giảm mạnh vào tuần trước. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn này đã giảm xuống chỉ còn 3,2% so với mức 3,94% tại thời điểm cách đây 1 tuần.

Lãi suất huy động dân cư kỳ hạn 1 đến 12 tháng ở mức khoảng 5,8-6,9%/năm

Tại thị trường huy động vốn từ dân cư, thông tin mới cập nhật trong tuần từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của ngân hàng thương mại trong nước ở mức 0,2-0,6%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 5,1- 5,6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng. Kỳ hạn 1 đến 12 tháng tiền gửi dân cư ở mức khoảng 5,8-6,9%/năm; 5,7- 7,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,2- 6,9%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng.

Tuy nhiên, lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 1 tuần lại có tín hiệu quay đầu tăng trở lại với mức 5,27%, so với mức lãi suất 4,85% của kỳ hạn này trong tuần trước.

Hiện tại, diễn biến lãi suất vẫn đang là thông tin đáng chú ý với giới kinh doanh và các nhà đầu tư và thời điểm chuyển giao từ năm cũ sang năm mới sẽ là giai đoạn khá quan trọng quyết định xu hướng thời gian tới. Mặc dù vậy, quan điểm điều hành chung của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn đặt kỳ vọng giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ hoạt động kinh tế trong thời gian tới.

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm tiếp đà giảm thấp
Cán cân thương mại thặng dư đang tiếp tục ảnh hưởng tích cực lên tỷ giá. Ảnh: T.L

Đặc mục tiêu lạm phát 4,5% năm 2023

Một trong những thông tin quan trọng trong tuần qua là việc NHNN đưa ra mục tiêu lạm phát năm 2023 là khoảng 4,5%. Tỷ lệ lạm phát mục tiêu trong năm tới theo đó cao hơn so với lạm phát 3,8% được công bố cho năm 2022.

Lãi suất cho vay ở mức 8,8 - 10,3%/năm

Cũng theo thông tin cập nhật gần đây nhất của NHNN, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,8 - 10,3%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4,5%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (5,5%/năm).

Trong tuần qua, NHNN cũng đã chia sẻ thông tin về tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm 2022 với kết quả ước tính khoảng hơn 13%. Theo đó, đây là tốc độ tăng trưởng vẫn nằm trong kế hoạch dự tính mà NHNN đưa ra từ đầu năm với tốc độ tăng trưởng tối đa khoảng 14%.

Hiện nay, NHNN vẫn chưa công bố chính thức chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2023, nhưng quan điểm của NHNN đưa ra vẫn tỏ ra khá thận trọng. Lý do là, cơ quan quản lý thị trường tiền tệ vẫn cho rằng tình hình thị trường tài chính thế giới vẫn còn có thể có diễn biến khó lường.

Tốc độ tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tuy đã chậm lại, nhưng dự báo vẫn còn tiếp tục đến hết năm 2023 và động thái này vẫn có thể còn ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ thế giới và Việt Nam. Ngoài ra, NHNN cũng còn phải đối diện với nhiều nhiệm vụ quan trọng trong ổn định hệ thống và quản lý rủi ro, trong đó, kiểm soát tăng trưởng tín dụng vẫn là một trong những công cụ của cơ quan này trong quản lý rủi ro hệ thống ngân hàng.

Tỷ giá giảm, xuất siêu vẫn là thông tin hỗ trợ

Diễn biến tỷ giá trong tuần vừa qua vẫn diễn ra theo một kịch bản khá tích cực. Tỷ giá USD trung tâm do NHNN công bố vẫn liên tục giảm qua từng phiên trong tuần. Tỷ giá USD trung tâm chốt phiên cuối cùng trong tuần là 26.612 đồng/USD, giảm 19 đồng mỗi USD so với trước đó một tuần.

Tại Vietcombank, tỷ giá VND/USD đầu tuần điều chỉnh giảm, giữ nguyên trong phiên tiếp theo, sau đó có 1 phiên tăng giữa tuần và 2 phiên giảm cuối tuần. Vào sáng hôm 30/2, tỷ giá USD tại Vietcombank ghi nhận mức 23.380/23.410/23.730 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra). Tính chung cả tuần, tỷ giá USD tại Vietcombank giảm khoảng 110 đồng mỗi USD so với 1 tuần trước đó.

Tuần qua cũng là thời điểm Tổng cục Thống kê công bố tình hình cán cân thương mại hàng hóa vẫn tiếp tục xuất siêu trong tháng 12 và theo đó gia tăng quy mô xuất siêu trong cả năm 2022 là một trong những thông tin quan trọng hỗ trợ cho tỷ giá. Cụ thể, cán cân thương mại hàng hóa tháng 12 ước tính xuất siêu 0,5 tỷ USD; tính chung cả năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 11,2 tỷ USD (năm trước xuất siêu 3,32 tỷ USD).

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm tiếp đà giảm thấp
Giá vàng chỉ giảm rất nhẹ trong tuần qua. Ảnh: T.L

Giá vàng giữ nhịp ổn định

Giá vàng trong tuần có những phiên tăng giảm, nhưng tính chung cả tuần không có biến động quá lớn.

Sáng ngày 30/12, giá vàng SJC tại Hà Nội ghi nhận mức 65,8 triệu đồng/lượng mua vào và 66,82 triệu đồng/lượng bán ra, theo đó chỉ giảm nhẹ khoảng 100.000 đồng/lượng so với cách đó 1 tuần.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng thế giới giao ngay hôm cuối tuần đứng quanh ngưỡng 1.816,7 USD/ounce, tăng 8,7 USD/ounce so với đêm hôm trước. Giá vàng giao tương lai tháng 2/2023 trên sàn Comex New York ở mức 1.822,9 USD/ounce, tăng 8,9 USD/ounce so với đêm hôm trước.

Theo một số quan điểm đầu tư, thời điểm này có thể là cơ hội để mua vàng và bạc với giá thấp như hiện nay sau khi thị trường vàng kết thúc một năm đầy biến động. Trong năm 2022, vàng biến động mạnh, tăng lên trên 2.000 USD/ounce vào đầu năm và xuống mức thấp nhất gần 1.630 USD/ounce vào giai đoạn quý III./.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 17/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.632 đồng, tỷ giá USD tại ngân hàng tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY cũng tăng mạnh 0,73%, lên 100,34 điểm. Fed nâng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 3,75% - 4% với tỷ lệ nhất trí 12-0, đánh dấu lần tăng đầu tiên kể từ tháng 7/2023, đồng thời để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách.
Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 16/9, tỷ giá trung tâm tăng 9 đồng lên 25.626 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do đi xuống; còn chỉ số DXY tăng 0,06% lên 99,7 điểm. Thị trường kỳ vọng Fed tăng lãi suất tuần này. Theo BNP Paribas (Pháp), lãi suất toàn cầu đang đi ba hướng, với 25 trong gần 90 ngân hàng trung ương được theo dõi đã tăng lãi suất từ đầu năm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17888 18162 18741
CAD 17928 18203 18823
CHF 30959 31336 31982
CNY 0 3834 3931
EUR 29035 29255 30346
GBP 33758 34147 35098
HKD 0 3184 3386
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14514 15099
SGD 19810 20091 20661
THB 698 761 814
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,109 29,132 30,514
JPY 160.34 160.63 170.38
GBP 33,977 34,069 35,261
AUD 18,115 18,180 18,874
CAD 18,108 18,166 18,835
CHF 31,235 31,332 32,259
SGD 19,938 20,000 20,793
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.71 18.47 20.1
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,495 14,630 15,070
SEK - 2,591 2,685
DKK - 3,904 4,042
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,958.4 - 6,728.7
TWD 739.4 - 895.83
SAR - 6,802.09 7,165.12
KWD - 82,284 87,558
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,145 29,262 30,460
GBP 33,995 34,132 35,154
HKD 3,246 3,259 3,376
CHF 31,100 31,225 32,170
JPY 160.94 161.59 169.57
AUD 18,119 18,192 18,784
SGD 20,017 20,097 20,687
THB 763 766 804
CAD 18,123 18,196 18,784
NZD 14,585 15,126
KRW 18.40 20.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18063 18163 19093
CAD 18102 18202 19216
CHF 31197 31227 32817
CNY 3815.8 3840.8 3976.1
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29207 29237 30972
GBP 34046 34096 35849
HKD 0 3315 0
JPY 161.11 161.61 172.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14615 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19963 20093 20814
THB 0 726.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14170000 14170000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30