Ngân hàng đồng loạt triển khai các giải pháp hỗ trợ khách hàng gặp rủi ro do bão số 3

Chí Tín
(TBTCO) - Sau khi có văn bản chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, một số ngân hàng thương mại đã triển khai các giải pháp để đánh giá các ảnh hưởng của bão số 3 đối với khách hàng vay vốn và bước đầu đã có những giải pháp để tháo gỡ khó khăn.
aa
Bão số 3 và mưa lũ gây thiệt hại kinh tế ước tính trên 31.596 tỷ đồng
Ngân hàng đồng loạt triển khai các giải pháp hỗ trợ khách hàng gặp rủi ro do bão số 3
Đoàn công tác Agribank thăm hỏi, động viên khách hàng tại huyện Tiên Lãng - Hải Phòng, bị thiệt hại do bão số 3. Ảnh tư liệu

Xem xét miễn giảm lãi vay

Theo văn bản của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) gửi các ngân hàng thương mại, các ngân hàng chủ động rà soát, tổng hợp thiệt hại của khách hàng đang vay vốn để kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng. Trong đó, một số giải pháp được NHNN gợi ý là cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, tiếp tục cho vay mới khôi phục sản xuất kinh doanh sau bão theo các quy định hiện hành. Ngoài ra, NHNN cũng chỉ đạo chi nhánh NHNN các tỉnh, thành phố làm đầu mối chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn khẩn trương triển khai hỗ trợ khách hàng để góp phần khắc phục thiệt hại do bão.

Ngân hàng đồng loạt triển khai các giải pháp hỗ trợ khách hàng gặp rủi ro do bão số 3

Có thể mạnh dạn cho vay mới để người dân có vốn mới quay vòng

Những khoản nợ của của các doanh nghiệp khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, nuôi trồng thủy hải sản thì phải có cơ chế chính sách hợp lý, có thể mạnh dạn cho vay mới để các doanh nghiệp, người dân và hộ gia đình có vốn mới quay vòng, còn các khoản nợ cũ sẽ được xem xét giải quyết phù hợp với điều kiện thực tế. Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước

Trên cơ sở các yêu cầu trên, trong những ngày qua, một số chi nhánh NHNN các địa phương bị ảnh hưởng đã có báo cáo sơ bộ về tình hình cho vay và thiệt hại của khách hàng. Chi nhánh Quảng Ninh cho biết, đến 31/7/2024 dư nợ ngành nông - lâm - thủy sản đạt 5.541 tỷ đồng, chiếm 2,96% tổng dư nợ của tỉnh, tăng 7,75% so với cuối năm 2023; dư nợ ngành công nghiệp - xây dựng là 45.259 tỷ đồng, tăng 7,11% so với 31/12/2023; tín dụng ngành thương mại - dịch vụ đạt 136.141 tỷ đồng, chiếm 72,83% dư nợ tín dụng toàn tỉnh, tăng 5,65% so với cuối năm 2023.

Qua nắm bắt nhanh của các đơn vị ngân hàng trên địa bàn, tổng số 11.058 khách hàng, với tổng dư nợ 10.654 tỷ đồng (chiếm 5,6% tổng dư nợ toàn địa bàn) đã bị ảnh hưởng nặng nề do hậu quả cơn bão số 3 để lại; có một số khách hàng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng rất nặng nề (bị trôi dạt mất bè nuôi thủy sản). Trong đó, các khách hàng bị thiệt hại theo ngành, lĩnh vực cụ thể với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản có 6.270 khách hàng, dư nợ 1.463 tỷ đồng; lĩnh vực công nghiệp - xây dựng có 533 khách hàng, dư nợ 5.243 tỷ đồng; lĩnh vực thương mại, dịch vụ có 4.255 khách hàng; dư nợ 3.948 tỷ đồng.

Trong khi đó, thống kê của chi nhánh Hải Phòng cho biết, tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế đến thời điểm 31/8/2024 đạt 233.410 tỷ đồng, tăng 12,8% so với 31/12/2023. Nợ xấu đến thời điểm 31/7/2024 là 3.156 tỷ đồng, bằng 1,35% tổng dư nợ.

Về tình hình thiệt hại của khách hàng tại Hải Phòng, có tổng số 890 khách hàng với tổng dư nợ là 15.686 tỷ đồng bị ảnh hưởng sau bão, tập trung vào các ngành nghề. Lĩnh vực chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản là 1.965 tỷ đồng, bằng 12,5% dư nợ bị ảnh hưởng sau bão; lĩnh vực sản xuất kinh doanh và thương mại 10.805 tỷ đồng, bằng 68,9% dư nợ bị ảnh hưởng sau bão. Lĩnh vực cầu cảng, tàu bè đánh bắt thủy hải sản, doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sông, đường biển là 1.816 tỷ đồng, bằng 11,6% dư nợ bị ảnh hưởng sau bão; lĩnh vực kinh doanh khách sạn, homestay là 1.100 tỷ đồng, bằng 7% dư nợ bị ảnh hưởng sau bão.

Các ngân hàng cùng vào cuộc

Phía các ngân hàng thương mại, một số ngân hàng cho biết đã rà soát thiệt hại và có những giải pháp riêng của từng ngân hàng. Ông Lê Duy Hải - Phó Tổng Giám đốc VietinBank cho biết, theo thống kê sơ bộ có khoảng 195 khách hàng doanh nghiệp của VietinBank bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3 với dư nợ khoảng 18.000 tỷ đồng. Trong thời gian tới, VietinBank sẽ nhanh chóng đánh giá tổng thể thiệt hại với các khách hàng trong toàn hệ thống để có biện pháp hỗ trợ phù hợp. Đối với các khách hàng có mua bảo hiểm của ngân hàng, VietinBank sẽ đẩy nhanh công tác đền bù để tạo điều kiện cho người dân nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Ông Lê Trung Thành - Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, trong thời gian qua đã liên tục cập nhật thông tin từ các địa phương để đánh giá mức độ thiệt hại của khách hàng. Ngân hàng coi đây là nhiệm vụ cấp bách cần được ưu tiên, đánh giá từng trường hợp khách hàng để có phương án cơ cấu lại nợ, giãn nợ, giảm lãi… Về giải pháp, BIDV đã ban hành gói tín dụng với mức lãi suất hợp lý, quy mô hợp lý để đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp hồi phục sau cơn bão.

Trong khi đó, một ngân hàng lớn khác là Agribank cho biết đã chỉ đạo Công ty Bảo hiểm ABIC tiến hành các thủ tục hỗ trợ, đền bù đối với các khách hàng, đảm bảo hỗ trợ khách hàng kịp thời. Trong thời gian tới, Agribank sẽ tiếp tục chủ động bám sát, thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các bộ ngành, chính quyền địa phương trong công tác phòng, chống thiên tai; thường xuyên cập nhập diễn biến tình hình, ổn định hoạt động kinh doanh, hỗ trợ kịp thời khách hàng bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3, đặc biệt khách hàng khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Về phía NHNN, đại diện lãnh đạo NHNN cũng cho biết, các ngân hàng có thể xem xét những khoản nào đã đến hạn, còn những khoản nợ sắp tới hạn sẽ có cách xử lý tích cực hơn cho khách hàng, người vay vốn. Đặc biệt những ngày trong bão và ngay sau bão, cũng cần cho vay tiêu dùng để người dân có thể có nguồn kinh phí để mua sắm những đồ dung trang thiết bị cho sinh hoạt cuộc sống./.

Chí Tín

Đọc thêm

Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

(TBTCO) - Trong bối cảnh ngành bảo hiểm phi nhân thọ năm 2026 được dự báo tăng trưởng 2 con số, nhưng đi kèm xu hướng "sàng lọc" mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm đồng loạt "thiết kế" lại chiến lược nhằm củng cố năng lực cạnh tranh và giữ vững vị thế trên thị trường.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Nam A Bank có tổng giám đốc mới

Nam A Bank có tổng giám đốc mới

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Hội đồng quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Nam A (Nam A Bank, mã ck: NAB) đã bổ nhiệm ông Trần Khải Hoàn giữ chức vụ Tổng giám đốc Nam A Bank kể từ ngày 10/4/2026.
Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

(TBTCO) - Hội đồng quản trị Bảo hiểm BIC vừa phê duyệt kế hoạch kinh doanh năm 2026 trình Đại hội đồng cổ đông, với mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng và lợi nhuận hợp nhất 780 tỷ đồng.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành. Đồng thời, chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Thuế Thành phố Hà Nội khi phát hiện công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Hàng loạt quỹ đầu tư lớn ký hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ SHB

Hàng loạt quỹ đầu tư lớn ký hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ SHB

(TBTCO) - Ngày 9/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) tổ chức Lễ ký kết hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ với sự tham gia của nhiều tổ chức, quỹ đầu tư uy tín trong nước và quốc tế, đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược tăng vốn và mở rộng quy mô hoạt động.
ABBank giảm ngay lãi suất huy động

ABBank giảm ngay lãi suất huy động

(TBTCO) - Đồng thuận cao việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, ABBank đã nhanh chóng triển khai điều chỉnh giảm lãi suất huy động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,940 ▼30K 17,240 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,950 ▼30K 17,250 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,940 ▼30K 17,240 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼50K 16,000 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼50K 15,950 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼50K 17,000 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼50K 16,950 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼50K 16,930 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,940 ▼30K 17,240 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,940 ▼30K 17,240 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,940 ▼30K 17,240 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,920 ▼30K 17,220 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,920 ▼30K 17,220 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,920 ▼30K 17,220 ▼30K
NL 99.90 15,520 ▼30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550 ▼30K
Trang sức 99.9 16,410 ▼30K 17,110 ▼30K
Trang sức 99.99 16,420 ▼30K 17,120 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,694 ▼3K 17,242 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,694 ▼3K 17,243 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,691 ▼3K 1,721 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,691 ▼3K 1,722 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,671 ▼3K 1,706 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,411 ▼297K 168,911 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,213 ▼225K 128,113 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,727 ▼96747K 11,617 ▼104757K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,326 ▼183K 104,226 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,072 ▼81823K 9,962 ▼89833K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,397 ▼125K 71,297 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 ▼3K 1,724 ▼3K
Cập nhật: 11/04/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18915
CAD 18487 18764 19389
CHF 32715 33100 33742
CNY 0 3800 3870
EUR 30224 30498 31532
GBP 34634 35027 35978
HKD 0 3231 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15648
SGD 20121 20404 20942
THB 736 799 855
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/04/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80