Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt mức tăng trưởng ấn tượng

Khánh Linh
(TBTCO) - Với đà phục hồi khả quan ở nhiều nhóm hàng, cùng với các giải pháp điều hành quyết liệt, ngành Nông nghiệp tin tưởng sẽ hoàn thành mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 65 tỷ USD trong năm 2025. Đây sẽ là đóng góp quan trọng giúp ổn định cán cân thương mại quốc gia.
aa
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt mức tăng trưởng ấn tượng
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đồ họa: Phương Anh

Nông, lâm, thủy sản xuất siêu 9,83 tỷ USD

Tại cuộc họp báo thường kỳ do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 3/7, ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với sản xuất phát triển ổn định và xuất khẩu đạt mức tăng trưởng ấn tượng. Đây là kết quả của sự nỗ lực trong quản lý, ứng dụng công nghệ và thích ứng với biến động thị trường, góp phần quan trọng vào kinh tế quốc gia.

Sắp diễn ra Lễ hội Trái cây lần thứ hai tại tỉnh Hồ Nam

Theo Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương), để thúc đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu nông sản, Bộ Công thương đã trao đổi và thống nhất với phía Trung Quốc sẽ tiếp tục tổ chức Lễ hội Trái cây lần thứ hai tại tỉnh Hồ Nam vào tháng 9/2025. Đơn vị tổ chức kỳ vọng sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia, tạo cơ hội giao thương và mở rộng thị trường.

Lĩnh vực nông nghiệp đã thể hiện vai trò “trụ đỡ”, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đóng góp quan trọng cho ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Theo ông Trần Gia Long, trong 6 tháng đầu năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 33,84 tỷ USD, tăng 15,5% và 52,1% mục tiêu năm 2025. Tất cả các nhóm hàng đều tăng, trong đó: Nông sản 18,5 tỷ USD, tăng 17,8%; lâm sản 8,82 tỷ USD, tăng 9,3%; thủy sản 5,16 tỷ USD, tăng 16,9%; sản phẩm chăn nuôi 264 triệu USD, tăng 10,1%; đầu vào sản xuất 1,13 tỷ USD, tăng 23,6%. Xuất siêu 9,83 tỷ USD, tăng 16,3%, cao hơn mức xuất siêu 7,19 tỷ USD của nền kinh tế.

Giá xuất khẩu một số nông sản tăng trên hai con số: Cà phê tăng 59,1%; cao su tăng 22,4%; hạt tiêu tăng 54,8%; hạt điều tăng 23,8%. Tuy nhiên, một số mặt hàng chủ lực lại ghi nhận xu hướng sụt giảm. Cụ thể, xuất khẩu gạo chỉ đạt 2,6 tỷ USD, giảm 9,8% so với cùng kỳ năm trước; rau quả đạt 2,7 tỷ USD, giảm 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là hai nhóm hàng cần sớm có giải pháp để khắc phục tình trạng suy giảm kim ngạch trong thời gian tới.

Từ đầu năm đến nay, ngành Nông nghiệp và Môi trường vừa cơ cấu lại thị trường xuất khẩu, mở cửa thị trường mới như Ả-rập Xê-út (Trung Đông), Brazil (châu Mỹ)...; vừa chủ động, tích cực trực tiếp đàm phán ứng phó linh hoạt, hiệu quả với chính sách “Thuế đối ứng của Hoa Kỳ”; nhờ đó giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang nhiều châu lục và thị trường tăng khá.

Cụ thể, châu Mỹ 7,96 tỷ USD, tăng 18,7%; châu Âu 5,29 tỷ USD, tăng 46,3%; châu Phi 1,09 tỷ USD, tăng 99,5%... Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường xuất khẩu lớn nhất; Hoa Kỳ chiếm 21,1%, tăng 16%; Trung Quốc chiếm 17,6%, giảm 0,7% và Nhật Bản chiếm 7,2%, tăng 25,5%.

Sự tăng trưởng ấn tượng trong xuất khẩu, đặc biệt sang châu Âu và châu Phi, cho thấy tiềm năng mở rộng thị trường. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào Trung Quốc và giảm giá trị ở một số mặt hàng như rau quả, chè đòi hỏi chiến lược đa dạng hóa...

Gia tăng giá trị xuất khẩu ở thị trường tiềm năng

Bình luận về kim ngạch xuất khẩu từ đầu năm đến nay, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, với kết quả này, cộng với xu hướng tăng tốc xuất khẩu cuối năm, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2025 có khả năng vượt mục tiêu đề ra và đạt 67 tỷ USD.

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, trước bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới và trong nước hiện nay với dự báo những thách thức và cơ hội đan xen trong giai đoạn tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định định hướng xuyên suốt là phát triển ngành Nông nghiệp theo chuỗi giá trị kinh tế nông nghiệp từ khâu sản xuất đến công đoạn chế biến tạo giá trị gia tăng, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và phát triển thị trường, giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông, lâm, thủy sản tại thị trường trong nước và xuất khẩu.

Để tiếp tục thúc đẩy gia tăng giá trị, chất lượng và thị phần xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản, trong thời gian tới Bộ tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách phục vụ tăng trưởng ngành và xuất khẩu như: Ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ trong các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện 3 đột phá chiến lược, làm mới các động lực tăng trưởng và các nghị quyết “Bộ tứ trụ cột”.

Đáng chú ý, để đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu trong năm 2025, bên cạnh việc coi trọng thị trường trong nước, Bộ sẽ thúc đẩy tiêu thụ nông sản tại thị trường trong nước và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, đóng góp vào sự phát triển của ngành và đất nước trong giai đoạn mới.

Theo đó, Bộ nâng cao hiệu quả công tác đàm phán, mở cửa thị trường, xúc tiến thương mại, xử lý các vấn đề trong thương mại, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ. Bộ kịp thời thông tin, hướng dẫn doanh nghiệp, người dân điều chỉnh phương án sản xuất, kinh doanh phù hợp; phối hợp xử lý ưu tiên thông quan đối với hàng nông sản, đặc biệt nông sản đang vụ thu hoạch, xuất khẩu dạng tươi sống.

Nói thêm về đa dạng hóa thị trường, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy cho rằng, đây là nhiệm vụ quốc gia, cần sự phối hợp liên bộ. Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì đàm phán kỹ thuật; Bộ Công thương xúc tiến thương mại, đàm phán thuế quan; Bộ Ngoại giao, các tham tán kết nối thị trường; Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ đổi mới công nghệ chế biến. Bộ cũng đề xuất “Chương trình quốc gia phát triển sản phẩm trái cây xuất khẩu chủ lực”.

Cùng với việc chú trọng đa dạng thị trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường siết chặt quản lý mã số vùng trồng, thực hiện nghiêm các quy định về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng hàng nông sản ngay từ khâu thu hoạch… đáp ứng yêu cầu kiểm dịch hàng xuất khẩu.

Bảo đảm nguồn cung phục vụ xuất khẩu

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy đã ký ban hành kế hoạch đẩy mạnh xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong quý III và quý IV nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra cho cả năm 2025.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt ra kế hoạch mục tiêu cụ thể từ nay đến cuối năm 2025. Theo đó, trong quý III/2025 phấn đấu mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt từ 14 - 15 tỷ USD. Quý IV/2025 sẽ tăng tốc xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, tận dụng cơ hội nhu cầu tiêu thụ nông sản tăng dịp cuối năm dương lịch, lễ, tết để phấn đấu đạt được mục tiêu tăng trưởng đạt 16 tỷ USD trở lên.

Khánh Linh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80