Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới

Chí Tín
(TBTCO) - Trước thềm năm 2023, các ngân hàng phải đối diện với những thách thức mới, vừa ổn định hệ thống, vừa duy trì hiệu quả hoạt động kinh doanh sau những khó khăn giai đoạn 2022 và những năm trước.
aa

Ngân hàng “gồng mình” vượt khó

Năm 2022 khép lại một giai đoạn có khá nhiều sự kiện đan xen trong hoạt động của các ngân hàng, trong đó, những yếu tố thuận lợi cũng xuất hiện khi dịch Covid-19 đã được khống chế, nhưng bối cảnh khó khăn chung cũng không ít để “thử gan” của hệ thống tài chính này.

Trong bức tranh chung, một trong những vấn đề lớn các ngân hàng phải đối diện trong năm 2022 là việc phải “hãm van” tín dụng, nhằm thực hiện mục tiêu lớn của nền kinh tế. Đầu năm 2022, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN về các nhiệm vụ trọng tâm năm 2022, trong đó đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (room) 14% cho cả năm. Mức tăng trưởng này chỉ khoảng xấp xỉ năm 2021 (năm 2021 tăng trưởng 13,53%). Trong khi đó, nhu cầu vay vốn của cộng đồng doanh nghiệp tăng cao trong năm 2022 do nền kinh tế đã “kích hoạt” trở lại sau giai đoạn chững lại để phòng, chống dịch Covid - 19, như 2 năm trước đó.

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
Nhiều ngân hàng đã tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực tài chính, mở rộng trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động.

Cùng với bối cảnh đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục tăng lãi suất, kéo theo làn sóng tăng lãi suất lan rộng toàn cầu khiến cho Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy này. NHNN phải 2 lần tăng lãi suất điều hành (vào cuối tháng 9 và cuối tháng 10). Trong bối cảnh này, các ngân hàng vẫn đảm bảo các chỉ tiêu an toàn hoạt động theo quy định của NHNN, nhưng để chủ động ứng phó trước các diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, các ngân hàng cũng cần rà soát, đánh giá thận trọng hơn để chủ động có các giải pháp cải thiện, đảm bảo an toàn hệ thống. Với vai trò điều hành của mình, NHNN sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là dịp cuối năm.

Mặc dù vậy, trong bối cảnh lãi suất quốc tế tăng, cùng với động thái tăng lãi suất điều hành của NHNN, cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại cũng diễn ra. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất cho vay tuy được điều chỉnh tăng, nhưng khó tăng nhanh như lãi suất huy động. Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên cũng nằm trong giới hạn theo quy định của NHNN, trong nội dung Quyết định số 1813/QĐ-NHNN ngày 24/10/2022, mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa với các lĩnh vực ưu tiên tuy được điều chỉnh tăng, nhưng cũng chỉ khống chế ở mức 5,5% (trước đó là 4,5%).

Hành trang trước thềm 2023

Một số thông điệp cuối năm 2022 là việc NHNN quyết định nới room, đồng thời một số ngân hàng thực hiện giảm lãi suất suất cho vay. Đây là một trong những thông điệp tích cực trước thềm năm 2023 từ phía ngân hàng để tạo động lực về vốn cho nền kinh tế. Trong khi đó, gói hỗ trợ 2% lãi suất theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP tiếp tục là nhiệm vụ được các ngân hàng quan tâm trong năm 2022 và năm 2023.

Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, năm 2023 là giai đoạn các ngân hàng sẽ còn phải tiếp tục gồng mình để đối diện những vấn đề tồn tại từ quá khứ, cũng như chuẩn bị tốt hành trang nắm bắt những thời cơ mới. “Chúng tôi dự báo lạm phát sẽ tăng dần trong năm sau và đạt 6% vào cuối năm, mức lạm phát trung bình của cả năm 2023 sẽ đạt 5,5%” - ông Tim Leelahaphan - chuyên gia kinh tế phụ trách Thái Lan và Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered chia sẻ.

Các chính sách tài khóa đang hỗ trợ thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã và đang chỉ đạo quyết liệt việc tăng cường và đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm. Theo đó, chính sách tiền tệ vẫn được điều hành trong mối quan hệ phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác trong tổng thể các giải pháp điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đặc biệt để kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, cũng như đảm bảo an sinh xã hội.

Ở góc độ an toàn, việc các ngân hàng bị hãm van tín dụng trong năm 2022 tuy tạo ra một cảm giác gò bó, nhưng điều này có thể chính là giai đoạn “thử lửa” để các ngân hàng sàng lọc chất lượng tín dụng. Thực tế, dự phòng và xử lý nợ xấu vẫn là vấn đề các ngân hàng phải giải quyết sớm và toàn diện để đảm bảo an toàn lành mạnh hệ thống về mặt lâu dài, nhất là sau giai đoạn các ngân hàng cũng phải gồng gánh những khó khăn chung của nền kinh tế giai đoạn dịch Covid-9. Do đó, các rủi ro từ các khoản vay xuất phát từ giai đoạn 2020 – 2021 nếu không được theo dõi kiểm soát tốt, có thể phát sinh thành các khoản nợ xấu trong những năm sau.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, thực chất trong 2 năm đại dịch, doanh nghiệp rất khó khăn và tiềm ẩn nợ xấu tăng cao. Theo đó, ông Hùng cho rằng, việc kéo dài Nghị quyết 42/2017/QH14 là rất cần thiết và trong thời gian kéo dài Nghị quyết, NHNN cũng nên phối hợp với các bộ, ngành rà soát Luật Các tổ chức tín dụng và các bộ luật liên quan để sửa đổi, đồng bộ các quy định.

Trước mắt, một trong những điểm thuận lợi hiện nay là hầu hết các ngân hàng đều thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ cho những khoản nợ xấu và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu. Thậm chí, một số ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh đã có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu thực tế. Ngoài ra, nhiều ngân hàng cũng thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ, qua đó nâng cao năng lực tài chính, mở rộng trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động.

* TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh:

Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ chặt chẽ, nhịp nhàng

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
TS. Châu Đình Linh

Việc kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đã được các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng hơn so với trước đây rất nhiều và phát huy hiệu quả tích cực.

Cụ thể trong vấn đề kiểm soát lạm phát, các cơ quan chức năng đã phân tích, đánh giá được đúng bản chất lạm phát trong giai đoạn năm 2022 không phải từ yếu tố tiền tệ mà đến từ chi phí đẩy. Với tính chất này, chính sách tài khóa đã và sẽ nên được thực thi với vai trò chủ đạo trong kiểm soát lạm phát, chính sách tiền tệ sẽ thực hiện vai trò hỗ trợ.

Một trong những chính sách đang được thực hiện thể hiện rõ vai trò kết hợp tích cực giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là giải pháp thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 40 nghìn tỷ đồng. Gói hỗ trợ lãi suất cũng không còn nằm trên lý thuyết mà đang được triển khai kéo dài đến hết năm 2023, điều này sẽ góp phần giảm áp lực chi phí tài chính cho nhiều doanh nghiệp khác nhau.

* PGS. TS. Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế:

Phát triển thị trường vốn để cân bằng sự ổn định giữa các kênh

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
PGS. TS. Ngô Trí Long

Trong sự kết hợp và hỗ trợ của chính sách tài khóa thì một trong những giải pháp lâu dài là phải phát triển thị trường vốn, qua đó tạo sự cân bằng ổn định giữa các kênh gồm tín dụng ngân hàng, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu.

Ngoài ra thời gian qua, tôi thấy rằng một trong những chính sách kết hợp chính sách tài khóa và tiền tệ được quan tâm là gói hỗ trợ 2% lãi suất. Việc giải ngân theo thực tế có thể có giai đoạn chậm, nhưng chúng ta cũng không thể sốt ruột vì thực thi chính sách phải đảm bảo bảo yêu cầu minh bạch, đúng đối tượng chứ không thể vung tiền qua cửa sổ. Tôi cho rằng thời gian tới chúng ta nên tiếp tục xem xét đánh giá lại quá trình triển khai thực tế, những nội dung nào còn bất cập thì xem xét sửa đổi, khắc phục những điểm nghẽn.

Chí Tín

Đọc thêm

MB mở rộng vai trò kết nối dòng vốn

MB mở rộng vai trò kết nối dòng vốn

(TBTCO) - Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động và nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn, bài toán phát triển thị trường vốn trở nên cấp thiết. Với quy mô tài sản hơn 1,73 triệu tỷ đồng cùng hệ sinh thái 8 doanh nghiệp thành viên, chiến lược của MB là một tập đoàn tài chính kết nối ngân hàng, chứng khoán, quản lý quỹ, bảo hiểm và tài chính tiêu dùng trên một nền khách hàng chung.
Hơn 11 triệu cổ phiếu lên UPCoM, F88 đẩy mạnh huy động vốn nhiều kênh

Hơn 11 triệu cổ phiếu lên UPCoM, F88 đẩy mạnh huy động vốn nhiều kênh

(TBTCO) - Ngày 30/9, hơn 11 triệu cổ phiếu F88 từ đợt chào bán ra công chúng chính thức giao dịch trên UPCoM, giúp doanh nghiệp huy động gần 782 tỷ đồng. Để mở rộng cho vay, F88 đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn qua trái phiếu và khoảng 1.300 tỷ đồng vay quốc tế. Doanh nghiệp kỳ vọng lợi nhuận năm 2026 đạt 1.500 tỷ đồng, tăng 65% và vượt kế hoạch đề ra.
Cần sớm chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính ở Việt Nam

Cần sớm chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính ở Việt Nam

(TBTCO) - TS. Lê Minh Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) cho rằng đã đến lúc cần xây dựng cơ sở pháp lý và lộ trình chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính tại Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 30/9: Vàng thế giới tăng hơn 40 USD, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 30/9: Vàng thế giới tăng hơn 40 USD, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, lên mức 4.182 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các doanh nghiệp.
Ngân hàng Nhà nước phản hồi thông tin giám sát khách VIP, lãnh đạo ngân hàng về phòng, chống rửa tiền

Ngân hàng Nhà nước phản hồi thông tin giám sát khách VIP, lãnh đạo ngân hàng về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh, các thông tin về khách hàng, cổ đông, người quản lý và các chủ thể liên quan được thu thập làm dữ liệu đầu vào để phân tích, đánh giá bức tranh rủi ro tổng thể của đối tượng báo cáo, không có nghĩa các chủ thể này trở thành đối tượng giám sát riêng hoặc được mặc định là có rủi ro, vi phạm quy định về phòng, chống rửa tiền.
Mở rộng diện đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội: Cân bằng an toàn và hiệu quả

Mở rộng diện đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội: Cân bằng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Góp ý về đề xuất mở rộng diện ngân hàng được nhận tiền gửi từ Quỹ Bảo hiểm xã hội, đại biểu Vũ Văn Tiến cho rằng, quỹ cần đa dạng hóa danh mục, thận trọng nhưng không trì trệ, nâng hiệu quả đầu tư nhưng phải bảo đảm an toàn cho khoản tích lũy của người lao động.
Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

(TBTCO) - Dòng vốn cho một kỷ nguyên mới không chỉ cần được khơi thông, mà cần được vận hành trên nền tảng của an toàn, minh bạch và niềm tin. Vietcombank sẵn sàng cùng ngành quản lý quỹ và thị trường vốn Việt Nam kiến tạo nền tảng ấy, hôm nay và cho những chặng đường phát triển tiếp theo.
MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB lên kế hoạch tăng vốn lần hai trong năm 2026, dự kiến chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng, huy động 9.360 tỷ đồng. Song song, ngân hàng muốn thành lập ngân hàng 100% vốn tại VIFC; mở rộng mảng chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, hướng tới hoàn thiện hệ sinh thái với hoạt động ngân hàng làm nền tảng cốt lõi.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 144,100
Hà Nội - PNJ 141,100 144,100
Đà Nẵng - PNJ 141,100 144,100
Miền Tây - PNJ 141,100 144,100
Tây Nguyên - PNJ 141,100 144,100
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 144,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 14,410
Miếng SJC Nghệ An 14,110 14,410
Miếng SJC Thái Bình 14,110 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 14,410
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 14,320
Trang sức 99.99 13,730 14,330
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 14,412
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 14,413
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 1,437
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 141,188
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 107,111
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 97,128
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 87,145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 83,294
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 5,962
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Cập nhật: 01/10/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17563 17836 18420
CAD 17780 18054 18675
CHF 30494 30870 31508
CNY 0 3830 3926
EUR 28856 29074 30158
GBP 33701 34090 35022
HKD 0 3178 3381
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14354 14944
SGD 19797 20078 20648
THB 689 752 805
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 28,887 28,910 30,280
JPY 160.87 161.16 170.93
GBP 33,783 33,874 35,047
AUD 17,766 17,830 18,507
CAD 17,962 18,020 18,688
CHF 30,757 30,853 31,766
SGD 19,902 19,964 20,756
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,242 3,252 3,389
KRW 17.66 18.42 20.05
THB 737.55 746.66 799.24
NZD 14,350 14,483 14,916
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,874 4,012
NOK - 2,661 2,756
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,946.49 - 6,713.67
TWD 735.45 - 891.04
SAR - 6,797.54 7,160.41
KWD - 82,087 87,349
AED - 6,815 7,343
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,966 29,082 30,297
GBP 33,877 34,013 35,047
HKD 3,243 3,256 3,374
CHF 30,673 30,796 31,741
JPY 161.61 162.26 170.24
AUD 17,794 17,865 18,462
SGD 19,999 20,079 20,673
THB 755 758 796
CAD 17,993 18,065 18,661
NZD 14,449 14,999
KRW 18.55 20.54
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25770 25770 26150
AUD 17738 17838 18763
CAD 17952 18052 19066
CHF 30741 30771 32352
CNY 3812.3 3837.3 3972.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29035 29065 30790
GBP 33965 34015 35785
HKD 0 3315 0
JPY 161.79 162.29 172.82
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14469 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19954 20084 20805
THB 0 718.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14110000 14110000 14410000
SBJ 12500000 12500000 14410000
Cập nhật: 01/10/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30