Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới

Chí Tín
(TBTCO) - Trước thềm năm 2023, các ngân hàng phải đối diện với những thách thức mới, vừa ổn định hệ thống, vừa duy trì hiệu quả hoạt động kinh doanh sau những khó khăn giai đoạn 2022 và những năm trước.
aa

Ngân hàng “gồng mình” vượt khó

Năm 2022 khép lại một giai đoạn có khá nhiều sự kiện đan xen trong hoạt động của các ngân hàng, trong đó, những yếu tố thuận lợi cũng xuất hiện khi dịch Covid-19 đã được khống chế, nhưng bối cảnh khó khăn chung cũng không ít để “thử gan” của hệ thống tài chính này.

Trong bức tranh chung, một trong những vấn đề lớn các ngân hàng phải đối diện trong năm 2022 là việc phải “hãm van” tín dụng, nhằm thực hiện mục tiêu lớn của nền kinh tế. Đầu năm 2022, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN về các nhiệm vụ trọng tâm năm 2022, trong đó đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (room) 14% cho cả năm. Mức tăng trưởng này chỉ khoảng xấp xỉ năm 2021 (năm 2021 tăng trưởng 13,53%). Trong khi đó, nhu cầu vay vốn của cộng đồng doanh nghiệp tăng cao trong năm 2022 do nền kinh tế đã “kích hoạt” trở lại sau giai đoạn chững lại để phòng, chống dịch Covid - 19, như 2 năm trước đó.

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
Nhiều ngân hàng đã tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực tài chính, mở rộng trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động.

Cùng với bối cảnh đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục tăng lãi suất, kéo theo làn sóng tăng lãi suất lan rộng toàn cầu khiến cho Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy này. NHNN phải 2 lần tăng lãi suất điều hành (vào cuối tháng 9 và cuối tháng 10). Trong bối cảnh này, các ngân hàng vẫn đảm bảo các chỉ tiêu an toàn hoạt động theo quy định của NHNN, nhưng để chủ động ứng phó trước các diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, các ngân hàng cũng cần rà soát, đánh giá thận trọng hơn để chủ động có các giải pháp cải thiện, đảm bảo an toàn hệ thống. Với vai trò điều hành của mình, NHNN sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là dịp cuối năm.

Mặc dù vậy, trong bối cảnh lãi suất quốc tế tăng, cùng với động thái tăng lãi suất điều hành của NHNN, cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại cũng diễn ra. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất cho vay tuy được điều chỉnh tăng, nhưng khó tăng nhanh như lãi suất huy động. Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên cũng nằm trong giới hạn theo quy định của NHNN, trong nội dung Quyết định số 1813/QĐ-NHNN ngày 24/10/2022, mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa với các lĩnh vực ưu tiên tuy được điều chỉnh tăng, nhưng cũng chỉ khống chế ở mức 5,5% (trước đó là 4,5%).

Hành trang trước thềm 2023

Một số thông điệp cuối năm 2022 là việc NHNN quyết định nới room, đồng thời một số ngân hàng thực hiện giảm lãi suất suất cho vay. Đây là một trong những thông điệp tích cực trước thềm năm 2023 từ phía ngân hàng để tạo động lực về vốn cho nền kinh tế. Trong khi đó, gói hỗ trợ 2% lãi suất theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP tiếp tục là nhiệm vụ được các ngân hàng quan tâm trong năm 2022 và năm 2023.

Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, năm 2023 là giai đoạn các ngân hàng sẽ còn phải tiếp tục gồng mình để đối diện những vấn đề tồn tại từ quá khứ, cũng như chuẩn bị tốt hành trang nắm bắt những thời cơ mới. “Chúng tôi dự báo lạm phát sẽ tăng dần trong năm sau và đạt 6% vào cuối năm, mức lạm phát trung bình của cả năm 2023 sẽ đạt 5,5%” - ông Tim Leelahaphan - chuyên gia kinh tế phụ trách Thái Lan và Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered chia sẻ.

Các chính sách tài khóa đang hỗ trợ thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã và đang chỉ đạo quyết liệt việc tăng cường và đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm. Theo đó, chính sách tiền tệ vẫn được điều hành trong mối quan hệ phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác trong tổng thể các giải pháp điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đặc biệt để kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, cũng như đảm bảo an sinh xã hội.

Ở góc độ an toàn, việc các ngân hàng bị hãm van tín dụng trong năm 2022 tuy tạo ra một cảm giác gò bó, nhưng điều này có thể chính là giai đoạn “thử lửa” để các ngân hàng sàng lọc chất lượng tín dụng. Thực tế, dự phòng và xử lý nợ xấu vẫn là vấn đề các ngân hàng phải giải quyết sớm và toàn diện để đảm bảo an toàn lành mạnh hệ thống về mặt lâu dài, nhất là sau giai đoạn các ngân hàng cũng phải gồng gánh những khó khăn chung của nền kinh tế giai đoạn dịch Covid-9. Do đó, các rủi ro từ các khoản vay xuất phát từ giai đoạn 2020 – 2021 nếu không được theo dõi kiểm soát tốt, có thể phát sinh thành các khoản nợ xấu trong những năm sau.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, thực chất trong 2 năm đại dịch, doanh nghiệp rất khó khăn và tiềm ẩn nợ xấu tăng cao. Theo đó, ông Hùng cho rằng, việc kéo dài Nghị quyết 42/2017/QH14 là rất cần thiết và trong thời gian kéo dài Nghị quyết, NHNN cũng nên phối hợp với các bộ, ngành rà soát Luật Các tổ chức tín dụng và các bộ luật liên quan để sửa đổi, đồng bộ các quy định.

Trước mắt, một trong những điểm thuận lợi hiện nay là hầu hết các ngân hàng đều thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ cho những khoản nợ xấu và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu. Thậm chí, một số ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh đã có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu thực tế. Ngoài ra, nhiều ngân hàng cũng thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ, qua đó nâng cao năng lực tài chính, mở rộng trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động.

* TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh:

Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ chặt chẽ, nhịp nhàng

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
TS. Châu Đình Linh

Việc kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đã được các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng hơn so với trước đây rất nhiều và phát huy hiệu quả tích cực.

Cụ thể trong vấn đề kiểm soát lạm phát, các cơ quan chức năng đã phân tích, đánh giá được đúng bản chất lạm phát trong giai đoạn năm 2022 không phải từ yếu tố tiền tệ mà đến từ chi phí đẩy. Với tính chất này, chính sách tài khóa đã và sẽ nên được thực thi với vai trò chủ đạo trong kiểm soát lạm phát, chính sách tiền tệ sẽ thực hiện vai trò hỗ trợ.

Một trong những chính sách đang được thực hiện thể hiện rõ vai trò kết hợp tích cực giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là giải pháp thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 40 nghìn tỷ đồng. Gói hỗ trợ lãi suất cũng không còn nằm trên lý thuyết mà đang được triển khai kéo dài đến hết năm 2023, điều này sẽ góp phần giảm áp lực chi phí tài chính cho nhiều doanh nghiệp khác nhau.

* PGS. TS. Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế:

Phát triển thị trường vốn để cân bằng sự ổn định giữa các kênh

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
PGS. TS. Ngô Trí Long

Trong sự kết hợp và hỗ trợ của chính sách tài khóa thì một trong những giải pháp lâu dài là phải phát triển thị trường vốn, qua đó tạo sự cân bằng ổn định giữa các kênh gồm tín dụng ngân hàng, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu.

Ngoài ra thời gian qua, tôi thấy rằng một trong những chính sách kết hợp chính sách tài khóa và tiền tệ được quan tâm là gói hỗ trợ 2% lãi suất. Việc giải ngân theo thực tế có thể có giai đoạn chậm, nhưng chúng ta cũng không thể sốt ruột vì thực thi chính sách phải đảm bảo bảo yêu cầu minh bạch, đúng đối tượng chứ không thể vung tiền qua cửa sổ. Tôi cho rằng thời gian tới chúng ta nên tiếp tục xem xét đánh giá lại quá trình triển khai thực tế, những nội dung nào còn bất cập thì xem xét sửa đổi, khắc phục những điểm nghẽn.

Chí Tín

Đọc thêm

Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

(TBTCO) - Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực ở tất cả các phân khúc kinh doanh, đồng thời khẳng định nền tảng vốn vững chắc.
Bảo hiểm Bảo hành an toàn MIC - giải pháp tối ưu dành cho chủ xe không lo gián đoạn bảo hành chính hãng

Bảo hiểm Bảo hành an toàn MIC - giải pháp tối ưu dành cho chủ xe không lo gián đoạn bảo hành chính hãng

(TBTCO) - Hết hạn bảo hành chính hãng luôn là nỗi lo của các chủ xe, e ngại khi có sự cố thay tháo không phải phụ tùng chính hãng sẽ ảnh hưởng đến sự vận hành của xe. Hiểu được những “trăn trở” của khách hàng, Bảo hiểm Quân đội đã cho ra mắt Bảo hiểm Bảo hành an tâm MIC - giải pháp “bảo hiểm sức khỏe” giúp các chủ xe được an tâm về dịch vụ bảo hảnh, sửa chữa hoặc thay thế chữa những bộ phận/linh kiện của xe nếu hỏng hóc xuất phát từ lỗi kỹ thuật.
DBV nhận Giải thưởng Sao Khuê 2026 với giải pháp số hóa bồi thường bảo hiểm DBV eClaim 360

DBV nhận Giải thưởng Sao Khuê 2026 với giải pháp số hóa bồi thường bảo hiểm DBV eClaim 360

(TBTCO) - Ngày 28/5/2026, Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức được vinh danh tại Giải thưởng Sao Khuê 2026 với giải pháp số hóa bồi thường bảo hiểm DBV eClaim 360.
Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Bảo hiểm Quân đội lần đầu tiên  ra mắt sản phẩm MIC 360 - bảo vệ gói gọn trong một điểm chạm chi phí chỉ từ 100.000 đồng/năm

Bảo hiểm Quân đội lần đầu tiên ra mắt sản phẩm MIC 360 - bảo vệ gói gọn trong một điểm chạm chi phí chỉ từ 100.000 đồng/năm

(TBTCO) - Ngày 27/5/2026, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) chính thức ra mắt bộ sản phẩm MIC 360. Được thiết kế với các quyền lợi bảo vệ đa tầng và mức phí "bình dân" chỉ từ 100.000 đồng/năm, MIC 360 kỳ vọng sẽ trở thành "tấm khiên" an sinh vững chắc cho người lao động và các hộ kinh doanh trước những biến cố bất ngờ.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
Bảo hiểm Quân đội và Bệnh viện Thanh Nhàn ký kết hợp tác bảo lãnh viện phí trực tiếp nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh

Bảo hiểm Quân đội và Bệnh viện Thanh Nhàn ký kết hợp tác bảo lãnh viện phí trực tiếp nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh

(TBTCO) - Ngày 27/5/2026, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) và Bệnh viện Thanh Nhàn đã chính thức thực hiện lễ ký kết thỏa thuận hợp tác triển khai dịch vụ bảo lãnh viện phí trực tiếp. Đây là bước đi chiến lược nằm trong chuỗi hoạt động mở rộng mạng lưới bảo lãnh của MIC tại các bệnh viện công uy tín nhằm đơn giản hóa quy trình thủ tục và tối ưu hóa quyền lợi cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ y tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 14,500 ▲100K 14,700 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 14,450 ▲100K 14,650 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,150 ▲150K 15,550 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,100 ▲150K 15,500 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,030 ▲150K 15,480 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 155,500 ▲1000K 158,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 155,500 ▲1000K 158,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 155,500 ▲1000K 158,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 155,500 ▲1000K 158,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 155,500 ▲1000K 158,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 155,500 ▲1000K 158,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 ▲100K 15,850 ▲100K
NL 99.90 14,200 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250 ▲150K
Trang sức 99.9 15,040 ▲100K 15,740 ▲100K
Trang sức 99.99 15,050 ▲100K 15,750 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,555 ▲10K 15,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,555 ▲10K 15,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,553 ▲10K 1,583 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,553 ▲10K 1,584 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,533 ▲10K 1,568 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 148,748 ▲991K 155,248 ▲991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,862 ▲750K 117,762 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,885 ▲680K 106,785 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,908 ▲610K 95,808 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,674 ▲74465K 91,574 ▲82475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,642 ▲417K 65,542 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲10K 1,585 ▲10K
Cập nhật: 29/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18278 18554 19133
CAD 18514 18791 19408
CHF 32907 33292 33934
CNY 0 3846 3938
EUR 29969 30242 31288
GBP 34479 34870 35809
HKD 0 3226 3429
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15374 15965
SGD 20036 20319 20850
THB 723 786 840
USD (1,2) 26036 0 0
USD (5,10,20) 26077 0 0
USD (50,100) 26106 26120 26395
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,395
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,185 30,209 31,517
JPY 160.99 161.28 170.29
GBP 34,795 34,889 35,942
AUD 18,527 18,594 19,218
CAD 18,755 18,815 19,425
CHF 33,213 33,316 34,153
SGD 20,213 20,276 20,985
CNY - 3,820 3,949
HKD 3,297 3,307 3,431
KRW 16.13 16.82 18.22
THB 772.31 781.85 833.27
NZD 15,364 15,507 15,900
SEK - 2,802 2,888
DKK - 4,039 4,164
NOK - 2,797 2,883
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,214.15 - 6,983.75
TWD 758.63 - 915.14
SAR - 6,905.73 7,242.67
KWD - 83,643 88,617
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,115 26,135 26,395
EUR 30,113 30,234 31,425
GBP 34,770 34,910 35,930
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 33,019 33,152 34,100
JPY 161.43 162.08 169.44
AUD 18,503 18,577 19,173
SGD 20,270 20,351 20,941
THB 789 792 827
CAD 18,755 18,830 19,406
NZD 15,418 15,960
KRW 16.80 18.44
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26395
AUD 18476 18576 19501
CAD 18694 18794 19806
CHF 33197 33227 34810
CNY 3826.2 3851.2 3986.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30171 30201 31924
GBP 34787 34837 36595
HKD 0 3355 0
JPY 161.61 162.11 172.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20199 20329 21057
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,046 26,046 26,395
USD20 26,046 26,046 26,395
USD1 26,046 26,046 26,395
AUD 18,507 18,607 19,799
EUR 30,297 30,297 31,705
CAD 18,644 18,744 20,051
SGD 20,279 20,429 20,990
JPY 162.12 163.62 168.15
GBP 34,668 35,018 35,882
XAU 15,548,000 0 15,852,000
CNY 0 3,736 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80