Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới

Chí Tín
(TBTCO) - Trước thềm năm 2023, các ngân hàng phải đối diện với những thách thức mới, vừa ổn định hệ thống, vừa duy trì hiệu quả hoạt động kinh doanh sau những khó khăn giai đoạn 2022 và những năm trước.
aa

Ngân hàng “gồng mình” vượt khó

Năm 2022 khép lại một giai đoạn có khá nhiều sự kiện đan xen trong hoạt động của các ngân hàng, trong đó, những yếu tố thuận lợi cũng xuất hiện khi dịch Covid-19 đã được khống chế, nhưng bối cảnh khó khăn chung cũng không ít để “thử gan” của hệ thống tài chính này.

Trong bức tranh chung, một trong những vấn đề lớn các ngân hàng phải đối diện trong năm 2022 là việc phải “hãm van” tín dụng, nhằm thực hiện mục tiêu lớn của nền kinh tế. Đầu năm 2022, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN về các nhiệm vụ trọng tâm năm 2022, trong đó đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (room) 14% cho cả năm. Mức tăng trưởng này chỉ khoảng xấp xỉ năm 2021 (năm 2021 tăng trưởng 13,53%). Trong khi đó, nhu cầu vay vốn của cộng đồng doanh nghiệp tăng cao trong năm 2022 do nền kinh tế đã “kích hoạt” trở lại sau giai đoạn chững lại để phòng, chống dịch Covid - 19, như 2 năm trước đó.

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
Nhiều ngân hàng đã tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực tài chính, mở rộng trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động.

Cùng với bối cảnh đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục tăng lãi suất, kéo theo làn sóng tăng lãi suất lan rộng toàn cầu khiến cho Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy này. NHNN phải 2 lần tăng lãi suất điều hành (vào cuối tháng 9 và cuối tháng 10). Trong bối cảnh này, các ngân hàng vẫn đảm bảo các chỉ tiêu an toàn hoạt động theo quy định của NHNN, nhưng để chủ động ứng phó trước các diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, các ngân hàng cũng cần rà soát, đánh giá thận trọng hơn để chủ động có các giải pháp cải thiện, đảm bảo an toàn hệ thống. Với vai trò điều hành của mình, NHNN sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là dịp cuối năm.

Mặc dù vậy, trong bối cảnh lãi suất quốc tế tăng, cùng với động thái tăng lãi suất điều hành của NHNN, cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại cũng diễn ra. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất cho vay tuy được điều chỉnh tăng, nhưng khó tăng nhanh như lãi suất huy động. Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên cũng nằm trong giới hạn theo quy định của NHNN, trong nội dung Quyết định số 1813/QĐ-NHNN ngày 24/10/2022, mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa với các lĩnh vực ưu tiên tuy được điều chỉnh tăng, nhưng cũng chỉ khống chế ở mức 5,5% (trước đó là 4,5%).

Hành trang trước thềm 2023

Một số thông điệp cuối năm 2022 là việc NHNN quyết định nới room, đồng thời một số ngân hàng thực hiện giảm lãi suất suất cho vay. Đây là một trong những thông điệp tích cực trước thềm năm 2023 từ phía ngân hàng để tạo động lực về vốn cho nền kinh tế. Trong khi đó, gói hỗ trợ 2% lãi suất theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP tiếp tục là nhiệm vụ được các ngân hàng quan tâm trong năm 2022 và năm 2023.

Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, năm 2023 là giai đoạn các ngân hàng sẽ còn phải tiếp tục gồng mình để đối diện những vấn đề tồn tại từ quá khứ, cũng như chuẩn bị tốt hành trang nắm bắt những thời cơ mới. “Chúng tôi dự báo lạm phát sẽ tăng dần trong năm sau và đạt 6% vào cuối năm, mức lạm phát trung bình của cả năm 2023 sẽ đạt 5,5%” - ông Tim Leelahaphan - chuyên gia kinh tế phụ trách Thái Lan và Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered chia sẻ.

Các chính sách tài khóa đang hỗ trợ thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã và đang chỉ đạo quyết liệt việc tăng cường và đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm. Theo đó, chính sách tiền tệ vẫn được điều hành trong mối quan hệ phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác trong tổng thể các giải pháp điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đặc biệt để kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, cũng như đảm bảo an sinh xã hội.

Ở góc độ an toàn, việc các ngân hàng bị hãm van tín dụng trong năm 2022 tuy tạo ra một cảm giác gò bó, nhưng điều này có thể chính là giai đoạn “thử lửa” để các ngân hàng sàng lọc chất lượng tín dụng. Thực tế, dự phòng và xử lý nợ xấu vẫn là vấn đề các ngân hàng phải giải quyết sớm và toàn diện để đảm bảo an toàn lành mạnh hệ thống về mặt lâu dài, nhất là sau giai đoạn các ngân hàng cũng phải gồng gánh những khó khăn chung của nền kinh tế giai đoạn dịch Covid-9. Do đó, các rủi ro từ các khoản vay xuất phát từ giai đoạn 2020 – 2021 nếu không được theo dõi kiểm soát tốt, có thể phát sinh thành các khoản nợ xấu trong những năm sau.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, thực chất trong 2 năm đại dịch, doanh nghiệp rất khó khăn và tiềm ẩn nợ xấu tăng cao. Theo đó, ông Hùng cho rằng, việc kéo dài Nghị quyết 42/2017/QH14 là rất cần thiết và trong thời gian kéo dài Nghị quyết, NHNN cũng nên phối hợp với các bộ, ngành rà soát Luật Các tổ chức tín dụng và các bộ luật liên quan để sửa đổi, đồng bộ các quy định.

Trước mắt, một trong những điểm thuận lợi hiện nay là hầu hết các ngân hàng đều thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ cho những khoản nợ xấu và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu. Thậm chí, một số ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh đã có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu thực tế. Ngoài ra, nhiều ngân hàng cũng thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ, qua đó nâng cao năng lực tài chính, mở rộng trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động.

* TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh:

Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ chặt chẽ, nhịp nhàng

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
TS. Châu Đình Linh

Việc kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đã được các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng hơn so với trước đây rất nhiều và phát huy hiệu quả tích cực.

Cụ thể trong vấn đề kiểm soát lạm phát, các cơ quan chức năng đã phân tích, đánh giá được đúng bản chất lạm phát trong giai đoạn năm 2022 không phải từ yếu tố tiền tệ mà đến từ chi phí đẩy. Với tính chất này, chính sách tài khóa đã và sẽ nên được thực thi với vai trò chủ đạo trong kiểm soát lạm phát, chính sách tiền tệ sẽ thực hiện vai trò hỗ trợ.

Một trong những chính sách đang được thực hiện thể hiện rõ vai trò kết hợp tích cực giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là giải pháp thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 40 nghìn tỷ đồng. Gói hỗ trợ lãi suất cũng không còn nằm trên lý thuyết mà đang được triển khai kéo dài đến hết năm 2023, điều này sẽ góp phần giảm áp lực chi phí tài chính cho nhiều doanh nghiệp khác nhau.

* PGS. TS. Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế:

Phát triển thị trường vốn để cân bằng sự ổn định giữa các kênh

Ngân hàng “gồng mình” trước những thách thức mới
PGS. TS. Ngô Trí Long

Trong sự kết hợp và hỗ trợ của chính sách tài khóa thì một trong những giải pháp lâu dài là phải phát triển thị trường vốn, qua đó tạo sự cân bằng ổn định giữa các kênh gồm tín dụng ngân hàng, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu.

Ngoài ra thời gian qua, tôi thấy rằng một trong những chính sách kết hợp chính sách tài khóa và tiền tệ được quan tâm là gói hỗ trợ 2% lãi suất. Việc giải ngân theo thực tế có thể có giai đoạn chậm, nhưng chúng ta cũng không thể sốt ruột vì thực thi chính sách phải đảm bảo bảo yêu cầu minh bạch, đúng đối tượng chứ không thể vung tiền qua cửa sổ. Tôi cho rằng thời gian tới chúng ta nên tiếp tục xem xét đánh giá lại quá trình triển khai thực tế, những nội dung nào còn bất cập thì xem xét sửa đổi, khắc phục những điểm nghẽn.

Chí Tín

Đọc thêm

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

(TBTCO) - Brand Finance - công ty tư vấn định giá thương hiệu (London, Anh) chính thức công bố danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Theo đó Bảo Việt là doanh nghiệp nhóm ngành bảo hiểm được ghi nhận ở thứ hạng cao nhất.
TPBank tiên phong VietQRGlobal cùng NAPAS, dẫn đầu thanh toán QR xuyên biên giới

TPBank tiên phong VietQRGlobal cùng NAPAS, dẫn đầu thanh toán QR xuyên biên giới

(TBTCO) - Hệ sinh thái ngân hàng số không chỉ nằm ở số lượng tính năng, mà ở khả năng kết nối những trải nghiệm tài chính vượt qua biên giới. Với thanh toán QR xuyên biên giới VietQRGlobal phối hợp cùng NAPAS, TPBank mở rộng mạng lưới thanh toán quốc tế, mang đến trải nghiệm liền mạch cho khách hàng và tạo thêm cơ hội kết nối với khách hàng toàn cầu cho doanh nghiệp Việt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 ▲40K 15,030 ▲40K
Trang sức 99.99 14,340 ▲40K 15,040 ▲40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 04/07/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/07/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80