Những tác động kinh tế khi tỷ giá tăng cao

Chí Tín
(TBTCO) - Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nới biên độ tỷ giá, giá USD liên tục tăng trong những ngày vừa qua và tiếp tục trở thành mối quan tâm lớn của giới kinh doanh. Trước tình hình này, một số chuyên gia kinh tế cũng đã đưa ra các đánh giá về bối cảnh chung của thị trường tiền tệ cũng như một vài lời khuyên cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp để có những hành động hợp lý.
aa

Tỷ giá “leo dốc” sau khi nới biên độ

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định điều chỉnh biên độ tỷ giá giao ngay USD/VND từ mức ±3% lên ±5%, có hiệu lực từ ngày 17/10/2022. Như vậy, sau khi giữ biên độ ±3% trong thời gian khá lâu (từ năm 2015), NHNN đã có một quyết định khá táo bạo khi tăng mạnh biên độ như vừa qua. Đồng thời ngay sau khi NHNN nới biên độ tỷ giá, Sở giao dịch NHNN cũng tăng mạnh tỷ giá USD tham khảo từ 23.925 đồng/USD lên 24.380 đồng/USD (tương ứng tăng 455 đồng mỗi USD).

Về lý do điều chỉnh tăng biên độ tỷ giá, NHNN cho biết, từ đầu năm 2022 đến nay, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) và nhiều ngân hàng trung ương lớn đẩy mạnh lộ trình thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng nhanh lãi suất điều hành, xung đột Nga - Ukraine làm chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục gián đoạn, giá xăng dầu và hàng hóa tăng cao, lạm phát tại nhiều nền kinh tế vượt mức kiểm soát… gây biến động lớn trên thị trường quốc tế và trong nước.

Tăng biên độ sẽ giúp các ngân hàng linh hoạt hơn trong việc xác định tỷ giá.
Tăng biên độ sẽ giúp các ngân hàng linh hoạt hơn trong việc xác định tỷ giá.

Từ sau thời điểm NHNN nới biên độ tỷ giá, tỷ giá đồng Việt Nam so với USD đã liên tục đà “leo dốc”. Cụ thể, tỷ giá USD tham khảo đã tăng từ 23.541 đồng/USD hôm 14/10 lên 23.688 đồng/USD vào ngày 21/10, mức tăng 141 đồng mỗi USD sau 1 tuần.

Tại Vietcombank, tỷ giá cũng đã tăng 440 đồng trong 1 tuần qua, từ mức 23.920; 23.950; 24.230 đồng/USD (mua tiền mặt; mua chuyển khoản; bán ra) lên mức 24.360; 24.390; 24.670 đồng/USD vào ngày 21/10.

Sau khi đưa ra quyết định điều chỉnh biên độ tỷ giá, NHNN cho biết sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tê, sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp để ổn định thị trường.

Cân đo với các yếu tố kinh tế

Thực tế, tỷ giá đã có giai đoạn tăng từ trước đó, cụ thể trong giai đoạn từ đầu năm đến 20/9, tỷ giá VND so với USD cũng đã mất giá khoảng 4%. Từ ngày 21/9, FED đã công bố tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm, ghi nhận 5 lần tăng lãi suất liên tiếp trong năm nay, trong đó có 3 lần liên tiếp FED tăng lãi suất với mức 0,75 điểm phần trăm. Sau đó, NHNN cũng công bố tăng lãi suất điều hành, cụ thể: lãi suất tái cấp vốn từ 4%/năm lên 5%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 2,5%/năm lên 3,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng tăng từ 5%/năm lên 6%/năm.

Sau thời điểm đó, tỷ giá của đồng Việt Nam so với Đô la Mỹ tiếp tục leo dốc, cụ thể là từ 23/9 đến 21/10, tỷ giá USD tham khảo đã tăng từ 23.324 đồng/USD lên 23.688 đồng/USD (tăng 364 đồng/USD, tương ứng tăng khoảng 1,6%). Tỷ giá USD tại Vietcombank đã tăng từ 23.535; 23.565; 23.845 đồng/USD lên 24.360; 24.390; 24.670 đồng/USD (tăng 825 đồng/USD, tương ứng tăng 3,5%).

Theo NHNN, trong quý III/2022, tỷ giá và thị trường ngoại tệ chịu nhiều áp lực do thị trường quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường, nguy cơ suy thoái gia tăng… Trước bối cảnh hiện tại, tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam so với USD đã tăng tới 7% so với cuối năm 2021 (tức đồng VND đã mất giá 7%). Tuy nhiên, động thái này cũng nằm trong diễn biến chung của các đồng tiền trên thế giới so với USD và thực tế đồng VND đang mất giá ít hơn. Cụ thể, Yên Nhật đã mất giá 30%; EUR mất 30%; Bảng Anh mất 35%, Nhân dân tệ của Trung Quốc mất giá hơn 8%...

Tỷ giá hối đoái tăng thường có lợi hơn cho xuất khẩu

TS. Lê Xuân Nghĩa - thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cho rằng, tỷ giá hối đoái tăng thường có lợi cho nhà xuất khẩu, ngược lại bất lợi cho nhập khẩu do hàng hóa từ bên ngoài sẽ trở nên đắt hơn. Đây là điều thường xuyên xảy ra trên thương trường.

Tuy nhiên, yếu tố tỷ giá hối đoái tác động cung cầu xuất nhập khẩu của Việt Nam không lớn lắm vì chúng ta thấy có sự trung hoà giá trị gia tăng thấp của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam. Trong bối cảnh này, doanh nghiệp nhập khẩu muốn hạn chế rủi ro tỷ giá trong những tháng tới đây nên tham gia thị trường mua ngoại tệ kỳ hạn hoặc quyền chọn, hoặc tham gia vào thị trường phái sinh nào đó để bảo vệ đồng tiền.

Các chuyên gia cho rằng, việc chấp nhận đồng nội tệ mất giá ở mức độ nào đó là phù hợp với bối cảnh chung, nhưng mức độ mất giá cụ thể là bao nhiêu sẽ là yếu tố phải tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng. Theo TS. Võ Trí Thành - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, việc điều chỉnh cần có sự tính toán trên sự cân đối các yếu tố lạm phát, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, thanh toán nợ… “Việc điều tiết phải làm sao phù hợp để góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh nhưng không tăng quá nhiều áp lực lên lãi suất, thanh toán, nhập khẩu…” - ông Thành nói.

Liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế cho rằng, việc điều chỉnh tỷ giá có thể là động thái kích thích hoạt động xuất khẩu, bởi khi đồng tiền Việt Nam giảm giá ở mức hợp lý thì hàng hóa của Việt Nam sẽ có tính cạnh tranh tốt hơn trên thị trường quốc tế. Theo đó, khi đưa ra một góc nhìn khái quát về vấn đề này, ông Francois Painchaud - Đại diện thường trú của Quỹ Tiền tệ quốc tế tại Việt Nam cho biết, động thái điều chỉnh tỷ giá lần này là hành động kịp thời và phù hợp với tình hình quốc tế và nền tảng vĩ mô của Việt Nam. Cũng theo ông Francois Painchaud, các biện pháp can thiệp ngoại hối có thể giúp đối phó với tình hình phức tạp của thị trường hiện nay và Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ việc sử dụng các biện pháp điều hành kinh tế vĩ mô thận trọng.

Chí Tín

Đọc thêm

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Kim TT/AVPL 16,870 ▲10K 17,170 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲100K 16,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲100K 16,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 ▲150K 17,100 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 ▲150K 17,050 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 ▲150K 17,030 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Hà Nội - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Miền Tây - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
NL 99.90 15,770 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▲100K
Trang sức 99.9 16,350 ▲60K 17,050 ▲60K
Trang sức 99.99 16,360 ▲60K 17,060 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,686 ▲1K 17,162 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,686 ▲1K 17,163 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,684 ▲1K 1,714 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,684 ▲1K 1,715 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,664 ▲1K 1,699 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,718 ▲99K 168,218 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,688 ▲75K 127,588 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,794 ▲68K 115,694 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,899 ▲61K 103,799 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,312 ▲59K 99,212 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,105 ▲41K 71,005 ▲41K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cập nhật: 27/03/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17623 17896 18472
CAD 18476 18753 19372
CHF 32374 32757 33403
CNY 0 3470 3830
EUR 29705 29977 31007
GBP 34242 34633 35570
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14880 15469
SGD 19922 20204 20733
THB 716 779 833
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80