Sức ép hai chiều lên thị trường tiền tệ

Chí Tín
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ đang chịu áp lực từ 2 phía lên lãi suất, một bên là các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ vẫn còn hiệu lực, trong đó đặt ra yêu cầu cần duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ nền kinh tế. Trong khi đó, cung cầu tiền tệ lại đang tạo sức ép đẩy lãi suất tăng, điều này đặt ra yêu cầu ngành ngân hàng cần có giải pháp hợp lý để giữ nhịp thị trường.
aa

Bài 1: Áp lực lãi suất gia tăng

Nhiều yếu tố cả trong và ngoài nước cho thấy thị trường tiền tệ đối diện với sức ép gia tăng của mặt bằng lãi suất. Một số chuyên gia nhận định, việc tăng lãi suất hoàn toàn phù hợp với bối cảnh chung trên thị trường tiền tệ quốc tế, do ảnh hưởng của tác động thắt chặt tiền tệ của nhiều quốc gia trên thế giới, ảnh hưởng đến Việt Nam.

Lãi suất “leo thang”

Động thái tăng lãi suất huy động vẫn đang trong xu hướng tăng trong thời gian gần đây. Trong giai đoạn cuối tháng 8, đầu tháng 9/2022, một số ngân hàng tiếp tục điều chỉnh lãi suất đầu vào với biên độ tăng phổ biến ở mức 0,3 - 0,6%/năm so với trước. Điều đáng chú ý là trong giai đoạn trước, các ngân hàng thường tăng lãi suất với các kỳ hạn dài trên 1 năm, nhưng trong lần tăng lãi suất này, nhiều kỳ hạn ngắn cũng đã được điều chỉnh tăng, chủ yếu nằm ở kỳ hạn 6 và 9 tháng.

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồ họa: Thế Dương
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồ họa: Thế Dương

Đến thời điểm hiện tại, có khá nhiều ngân hàng đã có mức lãi suất huy động trên 7%/năm và hình thức gửi tiết kiệm trực tuyến đang có mức lãi suất hấp dẫn hơn gửi tiền mặt tại quầy. Cụ thể, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) có mức lãi suất khá cao cho các kỳ hạn tiền gửi trực tuyến 18 tháng trở lên với 7,55%/năm, trong khi tiền gửi 12 tháng cũng lên tới 7,3%/năm. Bám sát SCB là Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank), khi ngân hàng để mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm trực tuyến tới 7,4%/năm cho các kỳ hạn 18 tháng, 24 tháng và 36 tháng. Riêng kỳ hạn 12 tháng của Nam A Bank cũng để lãi suất trực tuyến là 7,2%.

Một số ngân hàng khác cũng đã có mức lãi suất từ 7%/năm với tiền gửi trực tuyến có thể kể đến Ngân hàng TMCP Bắc Á (Bac A Bank), Ngân hàng TMCP Bảo Việt (Baoviet Bank)...

Hiện nay, kỳ hạn được áp dụng của mỗi ngân hàng khá linh hoạt để khách hàng dễ dàng chọn lựa. Hầu hết các ngân hàng đều có sự cạnh tranh lãi suất tiền gửi gay gắt ở gói tiền gửi tiết kiệm này. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, lãi suất huy động từ đầu năm đến nay đã tăng khoảng 0,25% và lãi suất cho vay là 0,24%, nhưng đây là mức tăng thấp nhất so với tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Á.

Những tác động làm tăng lãi suất

Theo các nhà chuyên môn, lãi suất huy động của một số ngân hàng cao cũng là diễn biến không nằm ngoài xu hướng chung về diễn biến lãi suất thị trường quốc tế. Gần đây nhất, vào đầu tháng 9/2022, Ngân hàng Dự trữ Australia đã ra thông báo về quyết định tăng lãi suất lên đến 2,35%. Đây là lần tăng lãi suất thứ 5 kể từ tháng 5/2022 và đây cũng là mức lãi suất cao nhất tại Australia trong 7 năm qua. Mục tiêu của việc tăng lãi suất lần này của Australia là dần đưa tỷ lệ lạm phát của Australia về với mức 2% - 3%.

Theo Ngân hàng Dự trữ Australia, quyết định tăng lãi suất trong 5 tháng vừa qua được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều dấu hiệu bất ổn do lạm phát tăng cao ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, khiến cho các nước đều phải thắt chặt chính sách tiền tệ, trong khi đó cuộc xung đột Nga -Ukraine cùng các biện pháp kiểm soát dịch và một số chính sách khác của Trung Quốc cũng là những nhân tố khiến cho nền kinh tế thế giới đối mặt với nhiều khó khăn.

Áp lực tăng lãi suất trên thế giới vẫn còn

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) trong tháng 9/2022 đã thông báo tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản, đưa lãi suất chuẩn của khu vực lên mức 1,25%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng có thể có đợt điều chỉnh tăng lãi suất lần nữa sau khi đã có đợt tăng lãi suất vào đầu tháng 8/2022. Lý do là tình hình lạm phát tại các khu vực này vẫn còn diễn biến phức tạp, chi phí sinh hoạt tăng cao cùng với tình trạng bất ổn giá năng lượng đã khiến chính phủ nhiều nước châu Âu vẫn có thể phải có những động thái can thiệp. Trong khi đó tại Mỹ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) cũng vẫn để ngỏ khả năng sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong thời gian tới, nhằm kiểm soát lạm phát đang tăng cao nhất 40 năm qua tại nước này. Trước đó, FED đã liên tục tăng lãi suất và qua 4 lần nâng lãi suất trong năm 2022, lãi suất tại Mỹ đã lên mức 2,25 - 2,5%/năm với tổng mức tăng là khoảng 2,25 điểm phần trăm.

Tình hình kinh tế chung trên thế giới cho thấy, lạm phát toàn cầu tính đến quý II/2022 là 7,8%, mức cao nhất kể từ năm 2008. Theo dự báo của Consensus Economics đưa ra hồi tháng 5/2022, đến cuối năm nay, lạm phát toàn cầu sẽ ở mức khoảng 6,5%, cao hơn 1,5 lần so với dự báo tháng 2 (4%) được đưa ra trước khi bắt đầu cuộc xung đột quân sự ở Ukraine.

Theo đó, TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Tài chính thuộc Trường đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, chính sách chung của các nước trên thế giới trong nửa đầu năm 2022 đều phải đối mặt với mục tiêu kiểm soát lạm phát và công cụ thông thường được sử dụng là tăng lãi suất. Cụ thể, thời gian qua, Cục Dự trữ liêng bang Mỹ (FED), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB)… và nhiều quốc gia khác đều tăng lãi suất để thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát. Động thái này cũng đã có những tác động nhất định đối với thị trường tiền tệ Việt Nam.

Ngoài ra, sự phục hồi của các hoạt động kinh tế cũng là yếu tố khiến cho dòng vốn chịu sức ép bị rút khỏi ngân hàng để đưa vào các kênh sản xuất kinh doanh, điều này khiến cho các ngân hàng có xu hướng phải tăng lãi suất để giữ dòng tiền ở lại.

Trong báo cáo kinh tế mới nhất về Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi trong tháng 8 khi quá trình phục hồi kinh tế đã cho thấy những tín hiệu lan tỏa. Ngân hàng này duy trì dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 10,8% trong quý III/2022 và 3,9% trong quý IV/2022, đưa tăng trưởng GDP cả năm đạt 6,7%. Ông Tim Leelahaphan - Chuyên gia kinh tế phụ trách Thái Lan và Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered cho biết, sự phục hồi dự kiến sẽ diễn ra mạnh mẽ trong nửa cuối năm, nhất là khi Việt Nam đã mở cửa du lịch trở lại sau 2 năm đóng cửa.

Chí Tín

Đọc thêm

“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Bảo Việt Nhân thọ chính thức triển khai chương trình tri ân lớn nhất năm - “Trọn Vạn Dặm An”, với tổng giá trị quà tặng lên đến 11 tỷ đồng cùng hàng loạt giải thưởng hấp dẫn như ô tô và xe máy điện VinFast dành cho khách hàng trên toàn quốc.
Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.
Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

(TBTCO) - Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực ở tất cả các phân khúc kinh doanh, đồng thời khẳng định nền tảng vốn vững chắc.
Bảo hiểm Bảo hành an toàn MIC - giải pháp tối ưu dành cho chủ xe không lo gián đoạn bảo hành chính hãng

Bảo hiểm Bảo hành an toàn MIC - giải pháp tối ưu dành cho chủ xe không lo gián đoạn bảo hành chính hãng

(TBTCO) - Hết hạn bảo hành chính hãng luôn là nỗi lo của các chủ xe, e ngại khi có sự cố thay tháo không phải phụ tùng chính hãng sẽ ảnh hưởng đến sự vận hành của xe. Hiểu được những “trăn trở” của khách hàng, Bảo hiểm Quân đội đã cho ra mắt Bảo hiểm Bảo hành an tâm MIC - giải pháp “bảo hiểm sức khỏe” giúp các chủ xe được an tâm về dịch vụ bảo hảnh, sửa chữa hoặc thay thế chữa những bộ phận/linh kiện của xe nếu hỏng hóc xuất phát từ lỗi kỹ thuật.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,550 15,850
Kim TT/AVPL 15,550 15,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,550 15,850
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,100 15,500
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,030 15,480
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 155,500 158,500
Hà Nội - PNJ 155,500 158,500
Đà Nẵng - PNJ 155,500 158,500
Miền Tây - PNJ 155,500 158,500
Tây Nguyên - PNJ 155,500 158,500
Đông Nam Bộ - PNJ 155,500 158,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 15,850
Miếng SJC Nghệ An 15,550 15,850
Miếng SJC Thái Bình 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 15,850
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,040 15,740
Trang sức 99.99 15,050 15,750
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,555 15,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,555 15,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,553 1,583
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,553 1,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,533 1,568
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 148,748 155,248
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,862 117,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,885 106,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,908 95,808
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,674 91,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,642 65,542
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cập nhật: 02/06/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18347 18623 19204
CAD 18509 18786 19405
CHF 32896 33281 33941
CNY 0 3849 3942
EUR 30023 30296 31327
GBP 34617 35009 35947
HKD 0 3227 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15945
SGD 20054 20337 20867
THB 723 786 840
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,114 26,114 26,394
USD(1-2-5) 25,070 - -
USD(10-20) 25,070 - -
EUR 30,200 30,224 31,546
JPY 160.8 161.09 170.14
GBP 34,868 34,962 36,028
AUD 18,585 18,652 19,282
CAD 18,740 18,800 19,419
CHF 33,259 33,362 34,218
SGD 20,211 20,274 20,995
CNY - 3,821 3,952
HKD 3,296 3,306 3,431
KRW 16.16 16.85 18.26
THB 772.31 781.85 833.59
NZD 15,392 15,535 15,935
SEK - 2,802 2,889
DKK - 4,041 4,167
NOK - 2,801 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.15 - 6,986.39
TWD 759.38 - 916.39
SAR - 6,905.92 7,245.6
KWD - 83,643 88,650
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,104 26,124 26,394
EUR 30,081 30,202 31,404
GBP 34,768 34,908 35,942
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 33,047 33,180 34,129
JPY 161.14 161.79 169.21
AUD 18,550 18,624 19,228
SGD 20,242 20,323 20,920
THB 788 791 826
CAD 18,712 18,787 19,370
NZD 15,477 16,026
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26172 26172 26394
AUD 18543 18643 19568
CAD 18696 18796 19810
CHF 33164 33194 34777
CNY 3830.7 3855.7 3990.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30214 30244 31967
GBP 34923 34973 36731
HKD 0 3355 0
JPY 161.54 162.04 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15464 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20217 20347 21075
THB 0 752.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,394
USD20 26,147 26,197 26,394
USD1 23,882 26,197 26,394
AUD 18,598 18,698 19,799
EUR 30,357 30,357 31,767
CAD 18,662 18,762 20,069
SGD 20,300 20,450 21,013
JPY 161.99 163.49 168.05
GBP 34,815 35,165 36,031
XAU 15,598,000 0 15,902,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/06/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80