Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7.7:

Tìm hướng kết nối dòng vốn cho doanh nghiệp, vàng thế giới vẫn chịu sức ép lớn

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, giới ngân hàng và doanh nghiệp được tiếp nhận những quan điểm khá cụ thể của lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về các giải pháp tín dụng, tiền tệ hướng đến doanh nghiệp và người dân. Trong khi đó, tại thị trường quốc tế, xu hướng lãi suất tăng cao vẫn là đề tài đáng chú ývà điều này cũng tạo sức ép lớn lên giá vàng.
aa

Ngân hàng quan tâm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

Một trong những nội dung đáng quan tâm về tiền tệ - ngân hàng là những phát biểu của Thống đốc NHNN trong cuộc họp Thường trực Chính phủ với Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) diễn ra tuần qua. Đây cũng có thể được coi là một trong những quan điểm chính thống của ngành ngân hàng trong thời gian tới về các giải pháp tiền tệ, tín dụng cho doanh nghiệp SME.

Tìm hướng kết nối dòng vốn cho doanh nghiệp, vàng thế giới vẫn chịu sức ép lớn
Thống đốc NHNN đã trao đổi nhiều nội dung về giải pháp tín dụng cho doanh nghiệp SME. Ảnh: S.B
Tín dụng trong nước tăng chậm, vàng chịu sức ép từ FED

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, các vấn đề doanh nghiệp quan tâm liên lĩnh vực ngân hàng, các ý kiến xoay quanh hai vấn đề, đó là lãi suất và tiếp cận tín dụng.

Dư nợ cho doanh nghiệp SME đạt 2,3 triệu tỷ đồng

Đến cuối tháng 6/2023, dư nợ nền kinh tế đạt 12,423 triệu tỷ đồng, tăng 4,73% so 2022. Dư nợ đối với doanh nghiệp khoảng 6,3 triệu tỷ đồng (tăng 4,66% so 2022, chiếm 51% dư nợ nền kinh tế).

Dư nợ đối với doanh nghiệp SME đạt gần 2,3 triệu tỷ đồng, tăng gần 4% so với cuối 2022, chiếm khoảng 18,5% dư nợ nền kinh tế. Hiện nay, hầu hết các tổ chức tín dụng đều tham gia cho vay doanh nghiệp SME, nhiều tổ chức tín dụng đã triển khai các chương trình, sản phẩm tín dụng ưu đãi với điều kiện vay vốn và lãi suất thấp hơn so với các sản phẩm tín dụng thông thường.

Đối với vấn đề lãi suất, các ngân hàng đang tích cực giảm lãi suất, mặt bằng lãi suất bình quân giảm khoảng 1% so với cuối năm 2022, do chính sách có độ trễ nên có thể các tổ chức tín dụng sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới. Thống đốc cũng cho rằng để hạ lãi suất là một cố gắng của NHNN bởi khi hạ lãi suất, NHNN phải chèo lái và phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách để có thể làm sao ổn định không những thị trường tiền tệ mà còn thị trường ngoại hối, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng.

Đối với vấn đề tiếp cận tín dụng, NHNN cho biết vẫn chỉ đạo các tổ chức tín dụng rà soát thủ tục vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn nhưng vẫn phải đảm bảo theo quy định của pháp luật. Mặc dù không thay đổi quy định cho vay nhưng thời gian qua, NHNN đã cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn qua việc ban hành Thông tư 02/2023/TT-NHNN cho phép các tổ chức tín dụng cơ cấu thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng.

Phối hợp với Hàn Quốc dự báo nhu cầu tiền mặt của Việt Nam

Một trong những sự kiện tiền tệ tuần qua là việc NHNN đã có buổi làm việc với Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc và Đại học Sungkyunkwan (Hàn Quốc) thảo luận về vấn đề “Dự báo nhu cầu tiền mặt trong nền kinh tế Việt Nam”.

Theo Phó Cục trưởng Cục Phát hành và Kho quỹ Nguyễn Thị Thu Hương (trưởng nhóm nghiên cứu phía Việt Nam), kinh nghiệm thực tế của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cùng sự tham gia của các giáo sư, nhà nghiên cứu từ các trường Đại học của Hàn Quốc sẽ giúp đề xuất mô hình dự báo nhu cầu tiền mặt phù hợp cùng các bước thực hiện cụ thể. Đây sẽ là nguồn hỗ trợ và tham khảo có giá trị, góp phần bổ sung nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ chính sách của Việt Nam liên quan đến công tác quản lý tiền mặt.

Tìm hướng kết nối dòng vốn cho doanh nghiệp, vàng thế giới vẫn chịu sức ép lớn
Như cầu tiền mặt cho nền kinh tế cần phải được dự báo bằng các phương pháp khoa học. Ảnh: T.L

Một số nội dung được các bên thảo luận là những đánh giá về nhu cầu tiền mặt tại Việt Nam trong thời gian qua; các mô hình và phương pháp dự báo nhu cầu tiền mặt hiện nay tại Việt Nam; đặc điểm của các mô hình và phương pháp dự báo cầu tiền mặt của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc. Từ những số liệu đã có, các chuyên gia của 2 bên sẽ nghiên cứu bàn thảo và đưa ra các đề xuất về định hướng cải thiện các mô hình dự báo nhu cầu tiền mặt của Việt Nam; tác động kinh tế vĩ mô của những thay đổi trong nhu cầu tiền mặt và tác động đối với các chính sách phát hành tiền mặt…

Cần có sự tương tác giữa ngân hàng và doanh nghiệp

Mối gắn kết giữa ngân hàng và doanh nghiệp là đề tài không chỉ các doanh nghiệp và cả phía ngành ngân hàng rất quan tâm để đưa dòng vốn đế đúng đối tượng an toàn, hiệu quả. Lãnh đạo NHNN mới đây cũng vừa kiến nghị Chính phủ việc có thể tổ chức Hội nghị đánh giá tổng thể việc triển khai các chính sách hỗ trợ SME theo Luật hỗ trợ SME để có hướng giải quyết hiệu quả các vấn đề. Theo đó, mỗi bộ ngành, địa phương đều có các giải pháp, chính sách cùng tham gia tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Trong số các giải pháp hỗ trợ, NHNN cũng mở ra một phương án là việc tăng cường hiệu quả hoạt động của các quỹ bảo lãnh tín dụng dụng địa phương là rất quan trọng bởi địa phương nắm rõ nhất về hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn. Nếu dành nguồn lực cho bảo lãnh cho vay vốn, tín dụng cũng có thể tăng trưởng sẽ cao hơn hướng dòng vốn đến doanh nghiệp hiệu quả hơn.

Giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ lãi suất

Diễn biến giá vàng thế giới tuần qua cho thấy xu hướng giảm vẫn còn chi phối khá mạnh. Sau một số phiên giá vàng nỗ lực phục hồi nhờ lực cầu bắt đáy, giá vàng rơi vào trạng thái giảm mạnh hơn vào cuối tuần. Đến chiều ngày 7/7, giá vàng giao ngay giao dịch trên sàn Kitco chỉ còn ở mức 1.915 USD/ounce.

Trong khi đó, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) cũng vẫn giữ quan điểm có thể sẽ thực hiện tiếp các đợt tăng lãi suất trong giai đoạn từ nay đến cuối năm và điều này đang gây áp lực lớn lên giá vàng.

Trong khi đó, sức ép với giá vàng trong nước không quá lớn do bối cảnh tiền tệ trong nước đang có những diễn biến khác so với giá vàng thế giới. Hiện tại, quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam vẫn theo xu hướng nới lỏng, kỳ vọng của NHNN là vẫn muốn tiếp tục đưa lãi suất xuống thấp hơn nữa. Mục tiêu này cũng có cơ sở để thực hiện do bối cảnh lạm phát trong nước đang ở trạng thái không căng thẳng.

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2023 tăng 0,27% so với tháng trước, so với tháng 12/2022, CPI tháng 6 cũng chỉ tăng 0,67% và so với cùng kỳ năm trước tăng 2%. CPI bình quân quý II/2023 tăng 2,41% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 6 tháng đầu năm 2023, CPI tăng 3,29%; lạm phát cơ bản tăng 4,74%.

Tự doanh nghiệp cũng cần khắc phục hạn chế của bản thân

Mặc dù đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhưng lãnh đạo NHNN vừa qua cũng bày tỏ quan điểm cho rằng, bản thân doanh nghiệp cũng cần khắc phục những hạn chế của mình bởi đó chính là những vấn đề đang gây cản trở trong việc ngân hàng đưa ra quyết định cho vay. Chẳng hạn như các vấn đề cần phải nâng cao khả năng quản trị doanh nghiệp, tình hình tài chính, minh bạch hóa thông tin....

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/5: Giá vàng thế giới giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 15/5: Giá vàng thế giới giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về quanh ngưỡng 4.661 USD/ounce sáng ngày 15/5, kéo giãn chênh lệch với vàng trong nước lên gần 17 triệu đồng/lượng
Giá vàng hôm nay ngày 14/5: Giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 14/5: Giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt điều chỉnh giảm, với vàng thế giới xuống còn khoảng 4.695 USD/ounce và vàng trong nước lùi về ngưỡng 162 - 165 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Giá vàng hôm nay ngày 12/5: Giá vàng thế giới và trong nước đảo chiều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 12/5: Giá vàng thế giới và trong nước đảo chiều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng hôm nay ngày 12/5 ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng thế giới tăng lên quanh 4.750 USD/ounce, còn giá vàng trong nước giảm mạnh từ 2,1 - 2,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 11/5: Giá vàng thế giới mất mốc 4.700 USD/ounce, trong nước không ngoại lệ

Giá vàng hôm nay ngày 11/5: Giá vàng thế giới mất mốc 4.700 USD/ounce, trong nước không ngoại lệ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 11/5 (theo giờ Việt Nam) lùi về mức 4.697 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục được các doanh nghiệp giữ nguyên giá niêm yết.
Giá vàng hôm nay ngày 10/5: Giá vàng thế giới kỳ vọng vượt mốc 4.900 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/5: Giá vàng thế giới kỳ vọng vượt mốc 4.900 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi mạnh về cuối tuần sau khi lấy lại mốc 4.700 USD/ounce. Nhiều dự báo cho rằng, vàng có thể vượt mốc 4.900 USD/ounce trong tuần tới.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,130 16,380
Kim TT/AVPL 16,130 16,380
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,080 16,380
Nguyên Liệu 99.99 15,030 15,230
Nguyên Liệu 99.9 14,980 15,180
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,800 163,800
Hà Nội - PNJ 160,800 163,800
Đà Nẵng - PNJ 160,800 163,800
Miền Tây - PNJ 160,800 163,800
Tây Nguyên - PNJ 160,800 163,800
Đông Nam Bộ - PNJ 160,800 163,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,130 16,380
Miếng SJC Nghệ An 16,130 16,380
Miếng SJC Thái Bình 16,130 16,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,613 16,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,613 16,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Cập nhật: 19/05/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18321 18597 19172
CAD 18643 18921 19536
CHF 32901 33286 33921
CNY 0 3835 3927
EUR 30036 30309 31334
GBP 34422 34814 35744
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15126 15710
SGD 20051 20334 20856
THB 722 786 839
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,217 30,241 31,527
JPY 161.77 162.06 170.99
GBP 34,633 34,727 35,755
AUD 18,523 18,590 19,196
CAD 18,861 18,922 19,523
CHF 33,212 33,315 34,122
SGD 20,213 20,276 20,969
CNY - 3,808 3,934
HKD 3,307 3,317 3,438
KRW 16.25 16.95 18.35
THB 771.48 781.01 831.98
NZD 15,107 15,247 15,622
SEK - 2,755 2,838
DKK - 4,043 4,165
NOK - 2,794 2,878
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.3 - 6,978.47
TWD 754.84 - 909.85
SAR - 6,921.01 7,253.04
KWD - 83,808 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26387
AUD 18508 18608 19531
CAD 18826 18926 19940
CHF 33146 33176 34759
CNY 3816 3841 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30216 30246 31969
GBP 34718 34768 36521
HKD 0 3355 0
JPY 162.31 162.81 173.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15237 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20210 20340 21071
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,188 26,238 26,387
USD20 26,188 26,238 26,387
USD1 26,188 26,238 26,387
AUD 18,530 18,630 19,735
EUR 30,365 30,365 31,774
CAD 18,775 18,875 20,183
SGD 20,289 20,439 20,998
JPY 162.86 164.36 168.93
GBP 34,577 34,927 35,789
XAU 16,048,000 0 16,352,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80