Đảng bộ Agribank nhiệm kỳ 2025 - 2030: Vững tin cất cánh cùng đất nước

(TBTCO) - Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, mặc dù tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động nhanh, phức tạp, nhưng Đảng bộ Agribank đã đoàn kết, quyết tâm, tập trung trí tuệ, nguồn lực, triển khai hiệu quả các giải pháp, đạt và vượt các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra. Đó là nhấn mạnh của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long tại Đảng bộ Agribank.
aa

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) vừa tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XI, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Dự và phát biểu chỉ đạo tại Đại hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh; lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam… cùng 288 đại biểu đại diện cho trên 24.500 đảng viên tại 211 tổ chức đảng trực thuộc, tiêu biểu cho ý chí, nguyện vọng và sức mạnh đoàn kết của Đảng bộ Agribank tham dự Đại hội.

Khẳng định đậm nét định chế tài chính hàng đầu đất nước

Báo cáo tại Đại hội, ông Tô Huy Vũ - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank cho biết, chặng đường 5 năm vừa qua là một giai đoạn đặc biệt quan trọng và đầy ý nghĩa trong lịch sử phát triển của Đảng bộ Agribank.

Với 2 lần tiếp nhận các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên từ cấp ủy địa phương, Agribank đã thành công xây dựng mô hình đảng bộ toàn ngân hàng - một bước tiến lịch sử, mở ra giai đoạn phát triển mới. Toàn Đảng bộ Agribank với bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần đoàn kết và quyết tâm cao độ đã lãnh đạo hệ thống hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, khẳng định đậm nét vai trò hạt nhân chính trị của một định chế tài chính hàng đầu đất nước.

Đảng bộ Agribank nhiệm kỳ 2025 - 2030: Vững tin cất cánh cùng đất nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long phát biểu chỉ đạo tại Đại hội. Ảnh: Agribank

Nhiệm kỳ 2020 - 2025, Agribank đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu của Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu, từng bước sắp xếp lại tổ chức, mạng lưới theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh. Agribank đã nghiêm túc thực thi các chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, sớm phục hồi và phát triển sản xuất - kinh doanh, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Kết quả, các chỉ tiêu về tổng tài sản, nguồn vốn, dư nợ, lợi nhuận đều tăng trưởng và đạt mức cao nhất trong lịch sử 37 năm phát triển. Năng lực tài chính được củng cố mạnh mẽ, vốn điều lệ được cấp bổ sung 20.600 tỷ đồng và tăng lên mức 51.667 tỷ đồng, tạo điều kiện để Agribank mở rộng kinh doanh bền vững, đảm bảo các tỷ lệ an toàn và tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Với những thành tích xuất sắc trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ và hệ thống Agribank đã vinh dự được đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất - phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước; 5 năm liên tiếp đứng trong Top 10 doanh nghiệp có đóng góp lớn nhất cho ngân sách Nhà nước và nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý khác: Giải thưởng Chất lượng Quốc gia, Thương hiệu Quốc Gia Việt Nam; xếp hạng tín nhiệm “Ba2” bởi Moody’s Ratings và “BB+” bởi Fitch Ratings (mức cao nhất trong các ngân hàng Việt Nam)…

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng ủy đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về “Tăng cường đổi mới khoa học công nghệ, hướng đến mục tiêu ngân hàng số”, đồng thời kịp thời ban hành Kế hoạch và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, xem đây là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược.

Công tác hiện đại hóa công nghệ thông tin đạt được nhiều kết quả tích cực; hệ thống hoạt động ổn định, an toàn, cải thiện năng lực xử lý giao dịch. Agribank đã cung cấp trên 200 sản phẩm dịch vụ, phát triển nhiều tiện ích mới, tỷ lệ giao dịch tự động và qua kênh số đạt khoảng 95%; doanh thu từ kênh số chiếm 40% tổng thu dịch vụ; tỷ lệ khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ số đạt khoảng 47%.

Agribank cũng là một trong những ngân hàng tiên phong trong việc xanh hóa hoạt động, thúc đẩy “tín dụng xanh”, “nông nghiệp sạch” và đã ban hành Bộ tiêu chuẩn Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG), thể hiện cam kết mạnh mẽ với mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Bên cạnh đó, Agribank luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm cao với cộng đồng và xã hội thông qua việc tích cực thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới… Agribank ghi dấu ấn “Ngân hàng vì cộng đồng” với 2.650 tỷ đồng (2020 - 2025) dành cho các hoạt động an sinh xã hội, tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, xóa nhà tạm, nhà dột nát, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, khắc phục hậu quả thiên tai bão lũ, đồng hành vì biển đảo quê hương...

Hiệu quả kinh doanh, uy tín thương hiệu, thu nhập và đời sống của người lao động được cải thiện rõ rệt; Agribank tiếp tục giữ vững vai trò ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực tam nông, đồng thời góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát của đất nước.

Tính đến 30/6/2025, tổng tài sản của Agribank vượt 2,3 triệu tỷ đồng, tăng hơn 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ, trong nhiều năm là Ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn nhất hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 1,85 triệu tỷ đồng, gấp hơn 1,5 lần so với năm 2020; huy động vốn đạt hơn 2,1 triệu tỷ đồng, tăng hơn 1,4 lần so với đầu nhiệm kỳ.

Tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, chủ lực trong lĩnh vực tam nông

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Phó Thủ tướng Lê Thành Long ghi nhận và biểu dương sự nỗ lực, những thành tích mà Đảng bộ và toàn hệ thống Agribank đã đạt được, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của cả nước.

Công tác xây dựng Đảng được triển khai bài bản, nề nếp, đúng quy định. Việc học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương được thực hiện nghiêm túc, có nhiều đổi mới. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành việc làm thường xuyên, thực chất trong toàn đảng bộ. Công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng, kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận và lãnh đạo đoàn thể được chú trọng và triển khai hiệu quả, chặt chẽ, đúng quy định. Các nhiệm vụ chính trị đạt kết quả quan trọng.

Đảng bộ Agribank nhiệm kỳ 2025 - 2030: Vững tin cất cánh cùng đất nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long tặng hoa chúc mừng Đại hội. Ảnh: Agribank

“Những thành tựu đạt được của Đảng bộ Agribank trong nhiệm kỳ vừa qua là rất đáng tự hào, đây là tiền đề quan trọng để Đảng bộ và toàn hệ thống với tư duy, tầm nhìn chiến lược và khát vọng cống hiến cùng truyền thống tốt đẹp hơn 37 năm xây dựng, phát triển, sẽ thực hiện thành công những mục tiêu đề ra, xây dựng ngân hàng Agribank đa năng, hiện đại và chuyên nghiệp, giữ vững vị thế là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước” - Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Agribank lần thứ XI xác định mục tiêu tổng quát cho giai đoạn 2025 - 2030 là: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng Agribank là định chế tài chính hàng đầu, giữ vai trò trụ cột, chủ lực trong lĩnh vực tam nông, góp phần đưa khu vực nông nghiệp, nông thôn phát triển phồn thịnh; thúc đẩy chiến lược tài chính toàn diện, tiên phong trong phát triển xanh, bền vững và cam kết mạnh mẽ về chuyển đổi số”.

Thay mặt Đảng bộ Agribank, ông Tô Huy Vũ đã tiếp thu các ý kiến chỉ đạo quan trọng của Phó Thủ tướng; đồng thời cam kết Agribank sẽ nghiêm túc quán triệt và triển khai hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, gắn với phát triển văn hóa doanh nghiệp; hiện đại hóa theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh; tiếp tục phát huy vai trò chủ lực trong thực hiện các chính sách lớn về "tam nông", tài chính toàn diện và chuyển đổi xanh; chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho tiến trình cổ phần hóa, đóng góp thiết thực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Agribank nhiệm kỳ 2025 - 2030 gồm 30 đồng chí. Trong phiên họp lần thứ nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ Agribank bầu Ban Thường vụ Đảng ủy gồm 10 đồng chí. Đại hội bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, với 21 đại biểu chính thức, 04 đại biểu dự khuyết./.

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Kim TT/AVPL 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲160K 15,450 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲160K 15,400 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲160K 16,450 ▲160K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲160K 16,400 ▲160K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲160K 16,380 ▲160K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NL 99.90 14,950 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000 ▲150K
Trang sức 99.9 15,790 ▲100K 16,490 ▲100K
Trang sức 99.99 15,800 ▲100K 16,500 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 06/05/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18536 18813 19389
CAD 18828 19106 19725
CHF 33086 33472 34122
CNY 0 3820 3912
EUR 30251 30525 31551
GBP 34956 35350 36284
HKD 0 3228 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15344 15932
SGD 20150 20433 20958
THB 727 791 844
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26145 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26368
AUD 18658 18758 19683
CAD 19004 19104 20115
CHF 33273 33303 34890
CNY 3793.2 3818.2 3953.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30391 30421 32146
GBP 35218 35268 37036
HKD 0 3355 0
JPY 163.45 163.95 174.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15376 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20293 20423 21145
THB 0 756.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,368
USD20 26,155 26,205 26,368
USD1 26,155 26,205 26,368
AUD 18,754 18,854 19,963
EUR 30,553 30,553 31,964
CAD 18,957 19,057 20,365
SGD 20,370 20,520 21,075
JPY 163.75 165.25 169.81
GBP 35,118 35,468 36,600
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/05/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80