Đảng bộ Agribank nhiệm kỳ 2025 - 2030: Vững tin cất cánh cùng đất nước

(TBTCO) - Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, mặc dù tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động nhanh, phức tạp, nhưng Đảng bộ Agribank đã đoàn kết, quyết tâm, tập trung trí tuệ, nguồn lực, triển khai hiệu quả các giải pháp, đạt và vượt các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra. Đó là nhấn mạnh của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long tại Đảng bộ Agribank.
aa

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) vừa tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XI, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Dự và phát biểu chỉ đạo tại Đại hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh; lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam… cùng 288 đại biểu đại diện cho trên 24.500 đảng viên tại 211 tổ chức đảng trực thuộc, tiêu biểu cho ý chí, nguyện vọng và sức mạnh đoàn kết của Đảng bộ Agribank tham dự Đại hội.

Khẳng định đậm nét định chế tài chính hàng đầu đất nước

Báo cáo tại Đại hội, ông Tô Huy Vũ - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank cho biết, chặng đường 5 năm vừa qua là một giai đoạn đặc biệt quan trọng và đầy ý nghĩa trong lịch sử phát triển của Đảng bộ Agribank.

Với 2 lần tiếp nhận các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên từ cấp ủy địa phương, Agribank đã thành công xây dựng mô hình đảng bộ toàn ngân hàng - một bước tiến lịch sử, mở ra giai đoạn phát triển mới. Toàn Đảng bộ Agribank với bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần đoàn kết và quyết tâm cao độ đã lãnh đạo hệ thống hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, khẳng định đậm nét vai trò hạt nhân chính trị của một định chế tài chính hàng đầu đất nước.

Đảng bộ Agribank nhiệm kỳ 2025 - 2030: Vững tin cất cánh cùng đất nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long phát biểu chỉ đạo tại Đại hội. Ảnh: Agribank

Nhiệm kỳ 2020 - 2025, Agribank đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu của Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu, từng bước sắp xếp lại tổ chức, mạng lưới theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh. Agribank đã nghiêm túc thực thi các chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, sớm phục hồi và phát triển sản xuất - kinh doanh, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Kết quả, các chỉ tiêu về tổng tài sản, nguồn vốn, dư nợ, lợi nhuận đều tăng trưởng và đạt mức cao nhất trong lịch sử 37 năm phát triển. Năng lực tài chính được củng cố mạnh mẽ, vốn điều lệ được cấp bổ sung 20.600 tỷ đồng và tăng lên mức 51.667 tỷ đồng, tạo điều kiện để Agribank mở rộng kinh doanh bền vững, đảm bảo các tỷ lệ an toàn và tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Với những thành tích xuất sắc trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ và hệ thống Agribank đã vinh dự được đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất - phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước; 5 năm liên tiếp đứng trong Top 10 doanh nghiệp có đóng góp lớn nhất cho ngân sách Nhà nước và nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý khác: Giải thưởng Chất lượng Quốc gia, Thương hiệu Quốc Gia Việt Nam; xếp hạng tín nhiệm “Ba2” bởi Moody’s Ratings và “BB+” bởi Fitch Ratings (mức cao nhất trong các ngân hàng Việt Nam)…

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng ủy đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về “Tăng cường đổi mới khoa học công nghệ, hướng đến mục tiêu ngân hàng số”, đồng thời kịp thời ban hành Kế hoạch và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, xem đây là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược.

Công tác hiện đại hóa công nghệ thông tin đạt được nhiều kết quả tích cực; hệ thống hoạt động ổn định, an toàn, cải thiện năng lực xử lý giao dịch. Agribank đã cung cấp trên 200 sản phẩm dịch vụ, phát triển nhiều tiện ích mới, tỷ lệ giao dịch tự động và qua kênh số đạt khoảng 95%; doanh thu từ kênh số chiếm 40% tổng thu dịch vụ; tỷ lệ khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ số đạt khoảng 47%.

Agribank cũng là một trong những ngân hàng tiên phong trong việc xanh hóa hoạt động, thúc đẩy “tín dụng xanh”, “nông nghiệp sạch” và đã ban hành Bộ tiêu chuẩn Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG), thể hiện cam kết mạnh mẽ với mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Bên cạnh đó, Agribank luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm cao với cộng đồng và xã hội thông qua việc tích cực thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới… Agribank ghi dấu ấn “Ngân hàng vì cộng đồng” với 2.650 tỷ đồng (2020 - 2025) dành cho các hoạt động an sinh xã hội, tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, xóa nhà tạm, nhà dột nát, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, khắc phục hậu quả thiên tai bão lũ, đồng hành vì biển đảo quê hương...

Hiệu quả kinh doanh, uy tín thương hiệu, thu nhập và đời sống của người lao động được cải thiện rõ rệt; Agribank tiếp tục giữ vững vai trò ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực tam nông, đồng thời góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát của đất nước.

Tính đến 30/6/2025, tổng tài sản của Agribank vượt 2,3 triệu tỷ đồng, tăng hơn 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ, trong nhiều năm là Ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn nhất hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 1,85 triệu tỷ đồng, gấp hơn 1,5 lần so với năm 2020; huy động vốn đạt hơn 2,1 triệu tỷ đồng, tăng hơn 1,4 lần so với đầu nhiệm kỳ.

Tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, chủ lực trong lĩnh vực tam nông

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Phó Thủ tướng Lê Thành Long ghi nhận và biểu dương sự nỗ lực, những thành tích mà Đảng bộ và toàn hệ thống Agribank đã đạt được, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của cả nước.

Công tác xây dựng Đảng được triển khai bài bản, nề nếp, đúng quy định. Việc học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương được thực hiện nghiêm túc, có nhiều đổi mới. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành việc làm thường xuyên, thực chất trong toàn đảng bộ. Công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng, kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận và lãnh đạo đoàn thể được chú trọng và triển khai hiệu quả, chặt chẽ, đúng quy định. Các nhiệm vụ chính trị đạt kết quả quan trọng.

Đảng bộ Agribank nhiệm kỳ 2025 - 2030: Vững tin cất cánh cùng đất nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long tặng hoa chúc mừng Đại hội. Ảnh: Agribank

“Những thành tựu đạt được của Đảng bộ Agribank trong nhiệm kỳ vừa qua là rất đáng tự hào, đây là tiền đề quan trọng để Đảng bộ và toàn hệ thống với tư duy, tầm nhìn chiến lược và khát vọng cống hiến cùng truyền thống tốt đẹp hơn 37 năm xây dựng, phát triển, sẽ thực hiện thành công những mục tiêu đề ra, xây dựng ngân hàng Agribank đa năng, hiện đại và chuyên nghiệp, giữ vững vị thế là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước” - Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Agribank lần thứ XI xác định mục tiêu tổng quát cho giai đoạn 2025 - 2030 là: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng Agribank là định chế tài chính hàng đầu, giữ vai trò trụ cột, chủ lực trong lĩnh vực tam nông, góp phần đưa khu vực nông nghiệp, nông thôn phát triển phồn thịnh; thúc đẩy chiến lược tài chính toàn diện, tiên phong trong phát triển xanh, bền vững và cam kết mạnh mẽ về chuyển đổi số”.

Thay mặt Đảng bộ Agribank, ông Tô Huy Vũ đã tiếp thu các ý kiến chỉ đạo quan trọng của Phó Thủ tướng; đồng thời cam kết Agribank sẽ nghiêm túc quán triệt và triển khai hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, gắn với phát triển văn hóa doanh nghiệp; hiện đại hóa theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh; tiếp tục phát huy vai trò chủ lực trong thực hiện các chính sách lớn về "tam nông", tài chính toàn diện và chuyển đổi xanh; chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho tiến trình cổ phần hóa, đóng góp thiết thực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Agribank nhiệm kỳ 2025 - 2030 gồm 30 đồng chí. Trong phiên họp lần thứ nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ Agribank bầu Ban Thường vụ Đảng ủy gồm 10 đồng chí. Đại hội bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, với 21 đại biểu chính thức, 04 đại biểu dự khuyết./.

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 3/10, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên 25.636 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,91 điểm, tăng 0,93% dù hạ nhiệt phiên cuối tuần. Dữ liệu PCE và việc làm Mỹ suy yếu kéo xác suất Fed tăng lãi suất tháng 10 từ khoảng 70% xuống 21,59%, qua đó giảm áp lực lên USD.
Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

(TBTCO) - SACOMBANK dự kiến chào bán ra công chúng tối đa 15.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 7 - 10 năm, với lãi suất thả nổi, biên độ tối đa 4,2%/năm. Kế hoạch diễn ra khi ngân hàng đẩy mạnh huy động qua trái phiếu, số dư kỳ phiếu, trái phiếu cuối tháng 6/2026 lên 18.300 tỷ đồng, cao nhất nhiều năm; một số lô gần đây có lãi suất lên tới 12,5%/năm.
VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái  xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

(TBTCO) - VietinBank chính thức triển khai hợp tác chiến lược 3 bên cùng Công ty Cổ phần Văn hóa Ngôi Nhà Xanh (GreenHouse) - đơn vị vận hành nền tảng và Ingrid International Pte. Ltd (Ingrid International) - đơn vị tư vấn chiến lược, phát triển hệ sinh thái, hướng tới xây dựng hệ sinh thái xanh AI & thông minh, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam.
FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,660 ▼60K 14,260 ▼60K
Trang sức 99.99 13,670 ▼60K 14,270 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▼6K 14,352 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▼6K 14,353 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1266K 143 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1266K 1,431 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 ▼6K 142 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 ▼594K 140,594 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 ▼450K 106,661 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 ▼78636K 9,672 ▼87456K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 ▼366K 86,779 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 ▼350K 82,944 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 ▼25K 5,937 ▼25K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cập nhật: 03/10/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17533 17806 18390
CAD 17699 17973 18596
CHF 30705 31081 31728
CNY 0 3833 3929
EUR 28610 28827 29907
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14290 14885
SGD 19762 20043 20627
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 03/10/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30