Thị trường tiền tệ tuần 19-23/6:

Tín dụng trong nước tăng chậm, vàng chịu sức ép từ FED

Chí Tín
(TBTCO) - Điểm đáng chú ý trên thị trường tiền tệ trong nước là tín hiệu tăng trưởng tín dụng khá chậm. Trong khi đó trên bình diện quốc tế, những tuyên bố mới đây về chính sách cứng rắn của FED đang gây sức ép lớn lên thị trường kim loại quý.
aa

Tín dụng nửa đầu năm mới đạt hơn 1/4 chỉ tiêu

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã công bố một số chỉ tiêu kết quả hoạt động tiền tệ trong nửa đầu năm 2023 khi cho biết đã điều hành tín dụng hợp lý, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Năm 2023, trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2023 khoảng 6,5% và lạm phát khoảng 4,5% được Quốc hội, Chính phủ đặt ra, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2023 khoảng 14-15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Tín dụng trong nước tăng chậm, vàng chịu sức ép từ FED
Lãi suất điều hành giảm 4 lần nhưng tín dụng vẫn chưa tăng trưởng mạnh. Ảnh: T.L

Đến 15/6/2023, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 12,32 triệu tỷ đồng, tăng 3,36% so với cuối năm 2022, tăng 8,94% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó với tốc độ này, tăng trưởng tín dụng nền kinh tế sau gần nửa năm mới đạt được 1/4 so với chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng tín dụng đặt ra cho cả năm 2023.

Mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm khoảng 1% so với cuối năm 2022

NHNN cho biết đến nay về cơ bản mặt bằng lãi suất đã ổn định, lãi suất tiền gửi và cho vay mới có xu hướng giảm dần. Lãi suất tiền gửi bình quân của các ngân hàng thương mại ở mức khoảng 5,8%/năm (giảm 0,7% so với cuối năm 2022); lãi suất cho vay bình quân VND ở mức khoảng 8,9%/năm (giảm 1,0%/năm so với cuối năm 2022).

Ông Đào Minh Tú, Phó Thống đốc NHNN cho biết, tốc độ tăng trưởng tín dụng như thực tế diễn ra nửa đầu năm là thấp, nhưng đó là yếu tố khách quan của nền kinh tế. Phía ngành ngân hàng cũng muốn đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, nhưng một mặt cũng vẫn phải đảm bảo chất lượng tín dụng chứ không đẩy ra bằng mọi giá dẫn đến gia tăng rủi ro nợ xấu trong tương lai.

Theo đó, trong nhiệm vụ đặt ra cho nửa cuối năm 2023, NHNN cho biết tiếp tục điều hành tăng trưởng khối lượng và cơ cấu tín dụng hợp lý, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế, nhưng vẫn sẽ kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Việt Nam không nằm trong danh sách giám sát về thao túng tiền tệ

Báo cáo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ” do Bộ Tài chính Hoa Kỳ ban hành tháng 6 đã không đưa Việt Nam trong Danh sách giám sát về thao túng tiền tệ.

Bản báo cáo này dựa trên ba tiêu chí để xem xét khả năng thao túng tiền tệ của các đối tác thương mại chính, cụ thể là: (i) thặng dư thương mại song phương với Hoa Kỳ; (ii) thặng dư cán cân vãng lai; và (iii) can thiệp thị trường ngoại tệ một chiều, kéo dài.

NHNN cho biết tại các cuộc làm việc song phương với Bộ Tài chính Hoa Kỳ, NHNN đã và đang nỗ lực từng bước hiện đại hóa và minh bạch khung khổ chính sách tiền tệ và điều hành tỷ giá. Đồng thời, cơ quan quản lý thị trường tiền tệ Việt Nam sẽ tiếp tục tích cực phối hợp với các bộ, ngành để trao đổi, làm việc về các vấn đề mà phía Hoa Kỳ quan tâm trên tinh thần hợp tác, thiện chí.

Tín dụng trong nước tăng chậm, vàng chịu sức ép từ FED
Quan điểm của FED vẫn sẽ thắt chặt tiền tệ trong thời gian tới. Ảnh: T.L

Vàng chịu sức ép lớn từ FED

Trong tuần qua, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell trong nội dung điều trần trước Quốc hội Mỹ đã khẳng định rằng việc tăng lãi suất là cần thiết để kiềm chế lạm phát. Ông này cho rằng, lạm phát đã được kiểm soát phần nào kể từ giữa năm ngoái, tuy nhiên, áp lực lạm phát vẫn đang ở mức cao và việc đưa lạm phát trở lại mức 2% còn một quãng đường dài phía trước.

Với quan điểm này của FED, các chuyên gia tiền tệ quốc tế dự báo FED sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 0,5% trong năm nay so với mức lãi suất tham chiếu của FED hiện đang ở mức 5-5,25%. Theo đó, FED có thể sẽ có hai đợt tăng nữa trong thời gian còn lại của năm.

Những quan điểm cứng rắn của FED về lãi suất đã lập tức tạo nên áp lực lớn đối với giá vàng. Giá vàng thế giới đã có một tuần trượt dốc, với đà giảm điểm càng về cuối tuần càng giảm mạnh, từ mức 1.956 USD/ounce xuống chỉ còn 1.914 USD/ounce vào hôm thứ sáu cuối tuần. Theo đó, giá vàng đã giảm tới 42 USD mỗi ounce trong thời gian từ thứ hai đến thứ sáu.

Mặc dù giá vàng thế giới giảm mạnh, nhưng sự ảnh hưởng tới giá vàng trong nước lại không quá lớn. Giá vàng nhẫn có một số phiên giảm nhẹ, trong khi vàng miếng SJC 9999 trong nước vẫn trụ vững ngay cả trong những phiên giá vàng thế giới rớt giá mạnh. Tính đến cuối buổi sáng ngày 23/5, vàng miếng SJC ghi nhận mức giá 66,45 triệu đồng/lượng mua vào và 67,05 triệu đồng/lượng bán ra.

Thanh toán điện tử vẫn tăng trưởng mạnh

Trong 5 tháng đầu năm 2023 so với cùng kỳ năm 2022, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 52,35% về số lượng; qua kênh Internet tăng 75,54% về số lượng và 1,77% về giá trị. Thanh toán qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 64,26% và 7,65%; qua phương thức QR code tăng tương ứng 151,14% và 30,41%; qua POS tăng tương ứng 30,35% và 27,27% về giá trị. Riêng hoạt động rút tiền qua ATM giảm 4,62% về số lượng và 6,43% về giá trị, điều này cũng phản ánh xu hướng dịch chuyển sang thanh toán điện tử.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/5: Giá vàng thế giới giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 15/5: Giá vàng thế giới giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về quanh ngưỡng 4.661 USD/ounce sáng ngày 15/5, kéo giãn chênh lệch với vàng trong nước lên gần 17 triệu đồng/lượng
Giá vàng hôm nay ngày 14/5: Giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 14/5: Giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt điều chỉnh giảm, với vàng thế giới xuống còn khoảng 4.695 USD/ounce và vàng trong nước lùi về ngưỡng 162 - 165 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Giá vàng hôm nay ngày 12/5: Giá vàng thế giới và trong nước đảo chiều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 12/5: Giá vàng thế giới và trong nước đảo chiều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng hôm nay ngày 12/5 ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng thế giới tăng lên quanh 4.750 USD/ounce, còn giá vàng trong nước giảm mạnh từ 2,1 - 2,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 11/5: Giá vàng thế giới mất mốc 4.700 USD/ounce, trong nước không ngoại lệ

Giá vàng hôm nay ngày 11/5: Giá vàng thế giới mất mốc 4.700 USD/ounce, trong nước không ngoại lệ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 11/5 (theo giờ Việt Nam) lùi về mức 4.697 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục được các doanh nghiệp giữ nguyên giá niêm yết.
Giá vàng hôm nay ngày 10/5: Giá vàng thế giới kỳ vọng vượt mốc 4.900 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/5: Giá vàng thế giới kỳ vọng vượt mốc 4.900 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi mạnh về cuối tuần sau khi lấy lại mốc 4.700 USD/ounce. Nhiều dự báo cho rằng, vàng có thể vượt mốc 4.900 USD/ounce trong tuần tới.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,130 16,380
Kim TT/AVPL 16,130 16,380
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,080 16,380
Nguyên Liệu 99.99 15,030 15,230
Nguyên Liệu 99.9 14,980 15,180
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,800 163,800
Hà Nội - PNJ 160,800 163,800
Đà Nẵng - PNJ 160,800 163,800
Miền Tây - PNJ 160,800 163,800
Tây Nguyên - PNJ 160,800 163,800
Đông Nam Bộ - PNJ 160,800 163,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,130 16,380
Miếng SJC Nghệ An 16,130 16,380
Miếng SJC Thái Bình 16,130 16,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,613 16,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,613 16,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Cập nhật: 19/05/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18321 18597 19172
CAD 18643 18921 19536
CHF 32901 33286 33921
CNY 0 3835 3927
EUR 30036 30309 31334
GBP 34422 34814 35744
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15126 15710
SGD 20051 20334 20856
THB 722 786 839
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,217 30,241 31,527
JPY 161.77 162.06 170.99
GBP 34,633 34,727 35,755
AUD 18,523 18,590 19,196
CAD 18,861 18,922 19,523
CHF 33,212 33,315 34,122
SGD 20,213 20,276 20,969
CNY - 3,808 3,934
HKD 3,307 3,317 3,438
KRW 16.25 16.95 18.35
THB 771.48 781.01 831.98
NZD 15,107 15,247 15,622
SEK - 2,755 2,838
DKK - 4,043 4,165
NOK - 2,794 2,878
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.3 - 6,978.47
TWD 754.84 - 909.85
SAR - 6,921.01 7,253.04
KWD - 83,808 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26387
AUD 18508 18608 19531
CAD 18826 18926 19940
CHF 33146 33176 34759
CNY 3816 3841 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30216 30246 31969
GBP 34718 34768 36521
HKD 0 3355 0
JPY 162.31 162.81 173.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15237 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20210 20340 21071
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,188 26,238 26,387
USD20 26,188 26,238 26,387
USD1 26,188 26,238 26,387
AUD 18,530 18,630 19,735
EUR 30,365 30,365 31,774
CAD 18,775 18,875 20,183
SGD 20,289 20,439 20,998
JPY 162.86 164.36 168.93
GBP 34,577 34,927 35,789
XAU 16,048,000 0 16,352,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80