Tín dụng kỳ vọng tăng tốc, nhưng sẽ khó bùng nổ

Chí Tín
(TBTCO) - Các yếu tố thuận lợi đã xuất hiện cùng việc Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện các giải pháp thúc đẩy tín dụng, kỳ vọng tăng trưởng tín dụng nửa cuối năm 2024 sẽ được đẩy nhanh hơn. Tuy nhiên, khả năng tín dụng cũng sẽ khó bùng nổ và mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm là 15% mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra hồi đầu năm 2024 cũng vẫn là thách thức lớn.
aa
Tín dụng kỳ vọng tăng tốc, nhưng sẽ khó bùng nổ
Doanh số các tổ chức tín dụng đã cung ứng ra nền kinh tế trong gần 6 tháng đầu năm 2024 cao hơn cùng kỳ 3 năm trước. Ảnh tư liệu minh họa.

Tốc độ cải thiện dần...

Thời gian gần đây, nhiều tín hiệu cho thấy tăng trưởng tín dụng đã “tăng ga” tốt hơn sau giai đoạn khá “ì ạch” hồi đầu năm. Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến giữa tháng 6/2024, tăng trưởng tín dụng tăng 3,79% so với cuối năm 2023.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng như trên được NHNN và giới tài chính đánh giá là thấp do một số nguyên nhân. Theo NHNN, tại một số địa phương tăng trưởng tín dụng còn thấp; có những tổ chức tín dụng (TCTD) tăng trưởng tín dụng thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng chung, thậm chí tăng trưởng âm. Điều đó cho thấy về tổng thể, cầu tín dụng trong nước chưa có sự phục hồi mạnh mẽ, nhiều ngành sản xuất, dịch vụ là các động lực truyền thống của nền kinh tế vẫn còn những khó khăn nhất định. Một bộ phận khách hàng có nhu cầu vay vốn, nhưng chưa xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh khả thi, chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, cùng với sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của người dân.

Mặc dù vậy, điều đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng tín dụng cải thiện dần qua các tháng, doanh số tín dụng mà các TCTD đã cung ứng ra nền kinh tế trong gần 6 tháng đầu năm 2024 cao hơn doanh số cùng kỳ 3 năm trước. Đặc biệt là diễn biến thị trường đã đảo chiều sau giai đoạn ì ạch hồi đầu năm.

Tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả

Ngân hàng Nhà nước cho biết, việc tăng trưởng tín dụng phải đảm bảo an toàn, hiệu quả, đúng, trúng mục tiêu, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng; kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn có tính mùa vụ cao đối với một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực.

Trước đó, riêng trong 2 tháng đầu năm 2024, tăng trưởng tín dụng âm 0,72%, theo đó chỉ trong 3,5 tháng, từ tháng 3 đến giữa tháng 6, tăng trưởng tín dụng một phần đã bù được cho phần âm của 2 tháng đầu năm, một phần đã bứt tốc để đạt tốc độ 3,79%. Theo đó, nếu loại trừ 2 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng trong 3,5 tháng (từ tháng 3 đến giữa tháng 6) đạt tới 4,51%, bình quân đạt gần 1,3% mỗi tháng. Với những diễn biến hiện nay, TS. Cấn Văn Lực - Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV cho biết, tín dụng tuy yếu nếu nhìn vào số liệu tăng trưởng từ đầu năm, nhưng dùng số liệu so sánh với cùng kỳ năm ngoái cũng không phải thấp và điều quan trọng nữa là diễn biến đang theo xu hướng phục hồi tốt dần lên.

... Nhưng sẽ khó bùng nổ

Bên cạnh sự phục hồi khả quan trong những tháng gần đây, NHNN cũng đang thực hiện nhiều giải pháp với quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh tín dụng trong nửa cuối năm, điều này cũng đang đặt ra kỳ vọng tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn tiếp tục có những diễn biến khả quan.

Cụ thể, cơ quan quản lý thị trường tiền tệ tiếp tục cho biết, sẽ có các giải pháp khuyến khích các TCTD tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tạo sự hài hòa giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động; tiếp tục chỉ đạo các TCTD công bố công khai lãi suất cho vay bình quân. Ngoài ra, NHNN cũng sẽ khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn Luật các TCTD năm 2024; đồng thời, tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Một trong những giải pháp nữa là tiếp tục tổ chức kết nối ngân hàng - doanh nghiệp theo nhiều hình thức; tổ chức các đoàn công tác của lãnh đạo NHNN tại các địa phương về công tác tín dụng và theo chuyên đề nhằm kịp thời nắm bắt, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn trong công tác tín dụng.

Mặc dù tín hiệu tăng trưởng hoạt động cho vay đã và có thể tiếp tục có phần cải thiện hơn sau một thời gian chững lại những tháng đầu năm, nhưng các chuyên gia cho rằng, khả năng tăng trưởng tín dụng có thể “bùng nổ” mạnh mẽ trong những tháng còn lại của năm 2024 cũng khó xảy ra. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính (Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh) cho biết, sẽ rất khó cho ngành Ngân hàng để đạt được mục tiêu tăng trưởng 15% như đề ra hồi đầu năm.

Ngoài ra, bối cảnh nền kinh tế chưa thực sự thuận lợi hoàn toàn, trong đó, tăng trưởng kinh tế mặc dù đang phục hồi, nhưng tốc độ phục hồi vẫn còn chậm hơn so với kỳ vọng.

Trong báo cáo cập nhật kinh tế mới nhất về Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered dự báo, tăng trưởng GDP quý II của Việt Nam sẽ đạt 5,3% so với cùng kỳ (mức tăng GDP trong quý I đạt 5,7%). Ông Tim Leelahaphan - chuyên gia kinh tế Việt Nam và Thái Lan thuộc Standard Chartered cho biết, nền kinh tế có thể vẫn còn phải đối mặt với những thách thức trong quý III trong bối cảnh áp lực giá cả, tỷ giá và nhu cầu suy giảm trên toàn cầu.

PGS.TS NGUYỄN HỮU HUÂN - TRƯỞNG BỘ MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH (ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH): Dòng vốn tín dụng đang được định hướng tốt

Tín dụng kỳ vọng tăng tốc, nhưng sẽ khó bùng nổ

Tôi cho rằng tín dụng giai đoạn nửa cuối năm 2024 sẽ cải thiện hơn so với nửa đầu năm nhờ vào các dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế, nhưng khó có thể đạt 15% như mục tiêu.

Về dòng chảy tín dụng, hiện nay tín dụng đang được định hướng tốt chảy vào sản xuất nhiều và đó là yếu tố tích cực, vì mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Do vậy, dòng vốn được điều hướng tốt, hạn chế các kênh đầu cơ có thể khiến cho con số tăng trưởng không thực sự cao về mặt số liệu, nhưng đó là yếu tố bền vững, góp phần ổn định kinh tế.

Về bối cảnh kinh tế chung, nền kinh tế cũng vẫn còn nhiều khó khăn, nên sự phục hồi đang diễn ra, nhưng có thể chưa đạt tốc độ phục hồi như kỳ vọng. Điều này xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có yếu tố lãi suất của Mỹ vẫn neo ở mức cao chứ chưa giảm sớm như kỳ vọng trước đây, các yếu tố xung đột địa chính trị trên thế giới vẫn còn diễn ra… Theo đó, với bối cảnh thực tế của nền kinh tế trong và ngoài nước như trên, tăng trưởng tín dụng cũng chỉ cần ở mức độ phù hợp, vì thực chất không nhất thiết phải “kích” cho tín dụng tăng trưởng cao hơn quá nhiều so với tăng trưởng kinh tế.

ÔNG PHẠM NHƯ ÁNH - TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI (MB): Các ngân hàng đặt kỳ vọng nhiều vào sức hấp thụ của nền kinh tế

Tín dụng kỳ vọng tăng tốc, nhưng sẽ khó bùng nổ

Dự kiến đến hết tháng 6/2024, MB có thể sẽ tăng trưởng được 6 - 6,5%. Với mục tiêu năm nay tăng trưởng khoảng 15,5%, chúng tôi cần đạt khoảng 8% nữa trong 6 tháng cuối năm. Chúng tôi dự kiến sẽ hoàn thành mục tiêu vào đầu, hoặc giữa quý IV/2024.

Khi đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng, điều mà MB và các ngân hàng kỳ vọng nhất là sức hấp thụ của nền kinh tế. Ngoài sức hấp thụ của nền kinh tế, hiện nay các ngân hàng đều có các giải pháp tổng hợp, không có giải pháp duy nhất nào để đảm bảo tăng trưởng tín dụng và hấp thụ thị trường. Đến nay, các ngân hàng cũng đã giảm lãi suất thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây và với lãi suất hấp dẫn, kỳ vọng cầu sẽ tăng. Đồng thời, các ngân hàng tiếp tục tiết giảm chi phí để giải quyết vấn đề lãi suất.

Vấn đề thứ hai là về các thủ tục, các ngân hàng cũng tiếp tục tinh chỉnh các quy trình thủ tục. Đặc biệt, MB sẽ dựa vào nền tảng ứng dụng số cho khách hàng, tập trung cải tiến quy trình để mang đến cho khách hàng các trải nghiệm tự động hóa trên các ứng dụng số.

Ngoài ra, các luật mới sau khi chính thức có hiệu lực sẽ có tác động rất lớn đến khách hàng, do đó, chúng tôi cần tinh chỉnh các quy trình, sản phẩm theo luật và các thông tư, nghị định hướng dẫn để tháo gỡ các điểm nghẽn, điểm khó.

Chí Tín

Đọc thêm

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼700K 149,000 ▼200K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼700K 149,000 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼700K 149,000 ▼200K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼700K 149,000 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼700K 149,000 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼700K 149,000 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 ▲50K 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 ▲50K 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 ▲50K 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 11/07/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17719 17992 18579
CAD 18016 18291 18915
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3927
EUR 29342 29562 30643
GBP 34402 34793 35736
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15410
SGD 19787 20068 20647
THB 704 767 821
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/07/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80