Thị trường tiền tệ:

Tín hiệu tích cực hơn khi tốc độ huy động vốn "nhúc nhích" phục hồi

Chí Tín
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ nửa cuối năm 2022 có thời điểm ghi nhận việc huy động vốn tăng trưởng rất thấp so với tăng trưởng tín dụng, dẫn đến cuộc đua tăng lãi suất huy động. Tuy nhiên, diễn biến huy động vốn so với tăng trưởng tín dụng có những dấu hiệu nhúc nhích phục hồi, báo hiệu thông điệp tích cực hơn, mặc dù vậy các con số này có thể chưa hoàn toàn bền vững vì tốc độ cải thiện chưa nhiều.
aa

So sánh tăng trưởng huy động và tín dụng

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến 31/12/2022, tăng trưởng tín dụng đạt 14,5%. Tốc độ tăng trưởng này cao hơn chút ít so với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đưa ra thời điểm đầu năm (14%), nhưng vẫn thấp hơn chỉ tiêu tăng trưởng sau khi đã được NHNN điều chỉnh (NHNN nới chỉ tiêu tăng trưởng thêm 1,5% - 2% vào đầu tháng 12/2022).

NHNN chưa đưa ra số liệu về huy động vốn tính đến 31/12/2022, nhưng tính đến 27/12/2022, tốc độ tăng trưởng vốn huy động đạt khoảng trên 6%, tại thời điểm đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt khoảng trên 13%. Theo đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng tính đến 27/12 nhanh hơn khoảng 2,16 lần so với tốc độ tăng trưởng vốn huy động. So sánh tăng trưởng 2 chỉ tiêu này có thể thấy, vốn huy động vẫn tăng trưởng thấp hơn khá nhiều so với tăng trưởng tín dụng, nhưng so với giai đoạn tính đến cuối tháng 10 thì tình hình huy động vốn trong 2 tháng cuối năm đã được cải thiện hơn.

Tín hiệu tích cực hơn khi tốc độ huy động vốn

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Nhìn lại bức tranh về thị trường tiền tệ trong giai đoạn trước đó. Tính đến cuối tháng 10/2022, tăng trưởng tín dụng đã đạt 11,5% so với cuối năm 2021, nhưng tốc độ huy động vốn chỉ tăng khoảng 4,6% so với đầu năm. So sánh 2 con số này, tốc độ tăng trưởng tín dụng tính đến cuối tháng 10 nhanh gấp khoảng 2,5 lần so với tăng trưởng vốn huy động.

Tình trạng huy động vốn thấp hơn khá nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng, nhất là với số liệu tính đến cuối tháng 10, trở thành một trong những nguyên nhân khiến các ngân hàng chưa thể đẩy mạnh tín dụng. Theo đó, nhiều ngân hàng phải nâng lãi suất huy động để cải thiện năng lực nguồn vốn và đây là một trong những lý do dẫn đến cuộc đua tăng lãi suất huy động, đặc biệt nóng trong tháng 11 và đầu tháng 12/2022.

Và những tín hiệu khác...

Nếu so sánh con số tăng trưởng huy động và cho vay tính đến cuối năm 2022, có thể thấy tốc độ tăng trưởng huy động còn khá thấp. Tuy nhiên, đây là tốc độ tính bình quân cho cả năm bao gồm cả giai đoạn 10 tháng đầu năm, còn tính riêng cho 2 tháng cuối năm thì có thể thấy, tốc độ huy động riêng giai đoạn này đã “dễ thở” hơn. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng tín dụng từ cuối tháng 10 đến 27/12 tăng thêm 1,5%; trong khi huy động vốn của giai đoạn này cũng tăng thêm khoảng 1,4 – 1,5%. Hai con số này đã tương đối cân bằng nhau nếu chỉ tính riêng trong gần 2 tháng cuối.

Một số tín hiệu khác cho thấy tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng đã khá ổn định thời điểm cuối năm là lãi suất liên ngân hàng đã giảm, có thời điểm lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm xuống chỉ còn 3,2%.

Đánh giá về diễn biến lãi suất liên ngân hàng giảm, TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, động thái này có được một phần nhờ kết quả của hàng loạt động thái điều hành khá hợp lý của NHNN. Trong đó, thị trường mở đã được NHNN điều hành khá linh hoạt, nhờ đó thanh khoản của các ngân hàng cũng được cải thiện tốt hơn. Bên cạnh đó, một trong những động thái điều hành tuy có mang tính hành chính nhưng cần thiết trong thời điểm hiện tại là việc NHNN thông báo sẽ xử lý những ngân hàng tăng lãi suất, đã chặn được làn sóng tăng lãi suất, đưa lãi suất trở về quỹ đạo hợp lý.

Ngành Ngân hàng đề xuất giải pháp ổn định hệ thống về lâu dài

NHNN cho biết, để tháo gỡ khó khăn, ách tắc thanh khoản trong nền kinh tế, cần thúc đẩy giải ngân đầu tư công, thực hiện giảm, giãn thuế, điều chỉnh giá bất động sản... để khơi thông dòng tiền giữa các khu vực trong nền kinh tế. Bởi lẽ, nền kinh tế nếu quá phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng có thể gây hệ lụy và rủi ro trong tương lai vì các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng của Việt Nam đã và đang ở ngưỡng cảnh báo. Tuy nhiên, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, ngành Ngân hàng vẫn đang tập trung thực hiện các giải pháp cải cách, đơn giản thủ tục cho vay để nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho người nông dân, doanh nghiệp.

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) liên tục có những cuộc họp giữa thành viên để trao đổi và có những giải pháp tạo sự đồng thuận, nhằm ổn định hoạt động huy động vốn và cho vay. Sau các hoạt động này, sự liên thông giữa các ngân hàng cũng đã được nhịp nhàng hơn, hỗ trợ tốt hơn cho các ngân hàng về thanh khoản, thúc đẩy huy động vốn và cho vay được điều tiết ổn định hơn trước.

Nói về vai trò của VNBA, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, ngành Ngân hàng là ngành kinh doanh có điều kiện và hoạt động dưới sự giám sát chặt chẽ, nên hoạt động ngân hàng đòi hỏi sự liên thông cao trong toàn hệ thống. Các doanh nghiệp lĩnh vực khác nếu hoạt động rời rạc có thể không ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, nhưng ngân hàng nếu rời rạc không phối hợp tốt thì có thể có những ảnh hưởng rất tiêu cực với lợi ích chung của nền kinh tế và lợi ích của chính các ngân hàng. Theo đó, ông Tú cho rằng, khi hiệp hội đã có cam kết thì các ngân hàng thành viên cần phải tuân thủ các cam kết để giữ uy tín chung của ngành.

Chí Tín

Đọc thêm

VietABank lãi hơn 800 tỷ đồng, mở rộng huy động vốn quốc tế tạo đà tăng tín dụng

VietABank lãi hơn 800 tỷ đồng, mở rộng huy động vốn quốc tế tạo đà tăng tín dụng

(TBTCO) - VietABank lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 826,3 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng đồng đều ở các nguồn thu cốt lõi. Việc mở rộng huy động vốn trong nước và quốc tế tạo dư địa để ngân hàng đẩy mạnh cho vay, đưa dư nợ tiến sát mốc 100.000 tỷ đồng và duy trì chất lượng tài sản.
Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

(TBTCO) - Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (WB) thống nhất xây dựng danh mục các dự án dự kiến vay vốn giai đoạn 2026 - 2030, ưu tiên các dự án hiệu quả, tạo sức lan tỏa. Đồng thời, đưa ra những định hướng đổi mới trong triển khai, bảo đảm an toàn nợ công và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.
ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
NL 99.99 12,950 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▼50K
Trang sức 99.9 13,340 ▼150K 14,040 ▼150K
Trang sức 99.99 13,350 ▼150K 14,050 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1236K 14,152 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1236K 14,153 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▼1248K 141 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▼1248K 1,411 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1221K 139 ▼1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▼1485K 137,624 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼86275K 10,441 ▼95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲84020K 94,679 ▲93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▼916K 84,948 ▼916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲64168K 81,195 ▲72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▼625K 58,119 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cập nhật: 28/07/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18087 18663
CAD 18135 18410 19029
CHF 31463 31842 32490
CNY 0 3848 3942
EUR 29288 29508 30592
GBP 34171 34562 35497
HKD 0 3228 3430
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14879 15464
SGD 19821 20103 20677
THB 699 762 815
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26150 26520
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,429 29,453 30,858
JPY 156.44 156.72 166.18
GBP 34,368 34,461 35,658
AUD 18,017 18,082 18,764
CAD 18,305 18,364 19,039
CHF 31,758 31,857 32,794
SGD 19,949 20,011 20,792
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.61 17.32 18.84
THB 746.29 755.51 809.03
NZD 14,864 15,002 15,445
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,075
NOK - 2,676 2,771
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,019.21 - 6,794.39
TWD 733.68 - 888.71
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,206 88,522
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,135 26,515
EUR 29,394 29,512 30,703
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,623 31,750 32,665
JPY 156.73 157.36 165.26
AUD 18,056 18,129 18,725
SGD 20,034 20,114 20,703
THB 762 765 801
CAD 18,316 18,390 18,966
NZD 14,953 15,496
KRW 17.14 19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26154 26154 26514
AUD 17997 18097 19020
CAD 18304 18404 19418
CHF 31703 31733 33315
CNY 3829.8 3854.8 3990.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34472 34522 36282
HKD 0 3355 0
JPY 157.19 157.69 168.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14984 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19976 20106 20838
THB 0 727.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,530
USD20 26,109 26,209 26,536
USD1 26,059 26,209 26,571
AUD 18,057 18,157 19,264
EUR 29,286 29,386 31,045
CAD 18,248 18,348 19,654
SGD 20,067 20,217 20,781
JPY 157.75 159.25 164.8
GBP 34,399 34,549 35,770
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/07/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80