Tỷ giá chững đà tăng, nhưng nhiều yếu tố tiềm ẩn vẫn còn

Chí Tín
(TBTCO) - Chỉ số USD Index (DXY) - thước đo về sức mạnh đồng USD trên thị trường quốc tế đã có nhịp điều chỉnh xuống dưới 105 điểm, phần nào cũng giảm bớt áp lực với tỷ giá VND/USD. Tuy nhiên, diễn biến thời gian tới vẫn còn nhiều ẩn số khó lường.
aa
Tỷ giá chững đà tăng, nhưng nhiều yếu tố tiềm ẩn vẫn còn
Với một số biện pháp can thiệp đang được Ngân hàng Nhà nước thực hiện thì tỷ giá không còn trạng thái tăng nóng. Ảnh tư

Đồng USD giảm giá

Diễn biến đồng USD trên thị trường quốc tế cho thấy “sức nóng” của đồng tiền này đã có phần hạ nhiệt phần nào so với thời điểm 1 tháng trước. Sáng ngày 21/5 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 104,61 điểm, theo đó đã giảm đáng kể so với mặt bằng trên 106 điểm của chỉ số này hồi tháng 4/2024.

Tỷ giá có phần hạ nhiệt nhưng chưa bền vững

Diễn biến tỷ giá trong thời gian gần đây cho thấy, tỷ giá đã có phần hạ nhiệt trong giai đoạn giữa tháng 5, nhưng diễn biến này chưa cho thấy sự ổn định do có lúc vẫn nhích tăng nhẹ trong một vài ngày gần đây.

Tại thời điểm sáng ngày 21/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố là 24.451 đồng/USD, tăng 4 đồng so với ngày hôm trước. Tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.663 đồng/USD, cũng tăng 4 đồng so với hôm trước.

Cho đến hiện tại, các dự báo của thị trường tài chính quốc tế về thời điểm Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ hạ lãi suất cũng không có nhiều thay đổi so với hồi tháng 4/2024. Cụ thể, khả năng FED sẽ chưa hạ lãi suất trong các cuộc họp tháng 6 và tháng 7 sắp diễn ra, nhưng kỳ vọng thị trường vẫn đặt niềm tin vào cuộc họp vào tháng 9/2024. Tuy nhiên, bối cảnh hiện tại đã khác nhiều so với thời điểm tháng 4, bởi thời gian đang tiến gần hơn đến mốc tháng 9/2024. Ngoài ra, thông điệp của các quan chức FED đưa ra sau cuộc họp kết thúc hôm 1/5 cũng có khá nhiều ý nghĩa khi họ khẳng định sẽ không tăng lãi suất.

Ngoài ra, các số liệu kinh tế vĩ mô của Mỹ được công bố trong tháng 5/2024 cũng có xu hướng ủng hộ cho hành động giảm lãi suất của FED sẽ diễn ra sớm. Theo báo cáo của Bộ Lao động Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 4 tăng 0,3% so với tháng trước nhưng thấp hơn một chút so với ước tính 0,4% của Dow Jones và các nhà kinh tế do Wall Street Journal khảo sát. So với cùng kỳ năm trước, CPI tăng 3,4% đúng như kỳ vọng và giảm nhẹ so với mức 3,5% của tháng trước.

CPI lõi (không bao gồm giá lương thực và năng lượng) cũng tăng 0,3% so với tháng 3, đánh dấu mức tăng hàng tháng thấp nhất trong 4 tháng. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số này tăng 3,6% trong tháng 4, giảm từ mức 3,8% của tháng trước và đánh dấu mức tăng hàng năm thấp nhất kể từ tháng 4/2021.

Các yếu tố tỷ giá trong nước

Đưa ra đánh giá của mình, ông Đinh Quang Hinh - Trưởng Bộ phận vĩ mô và Chiến lược thị trường, Khối Phân tích VNDirect cũng tỏ ra khá lạc quan về thông tin chỉ số CPI Mỹ hạ nhiệt có thể sẽ tác động tích cực với thị trường tài chính trong nước. Ông Hinh cho rằng, chỉ số DXY và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ có nhịp điều chỉnh và nhà đầu tư hiện đang tự tin hơn về kịch bản FED sẽ giảm lãi suất điều hành vào cuộc họp tháng 9. Điều này giúp giảm bớt phần nào áp lực lên tỷ giá trong nước.

Diễn biến cụ thể tại thị trường tiền tệ trong nước, tỷ giá trong giai đoạn giữa tháng 5 có một số ngày hạ nhiệt chút ít, nhưng mức giảm không nhiều và hiện tại mặt bằng tỷ giá vẫn có lúc nhích tăng trở lại và neo ở mức cao so với thời điểm đầu năm 2024. Tuy nhiên, diễn biến cho thấy tỷ giá đã không tiếp tục tăng nóng như trong thời điểm từ đầu năm và đỉnh điểm ở giai đoạn tháng 4/2024.

Một trong những bằng chứng cho thấy các lo ngại về tỷ giá đã không còn là vấn đề quá lớn với giới tài chính là thái độ của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Chỉ số VN-Index hồi giữa tháng 4/2024 đã có những phiên gần như rơi tự do và một trong những lý do chính gây ảnh hưởng tâm lý nhà đầu tư thời điểm đó chính là vấn đề tỷ giá. Tuy nhiên, tâm lý nhà đầu tư từ cuối tháng 4 đến nay đã dần ổn định trở lại và VN-Index đã tăng trở lại mốc điểm gần với đỉnh thời điểm cuối tháng 3.

Bà Phan Thị Thu Hằng - Trưởng Phòng Khối tư vấn đầu tư cho rằng, hiện nay với một số biện pháp can thiệp đang được Ngân hàng Nhà nước thực hiện (như thực hiện các hoạt động thị trường mở, bán USD…) thì tỷ giá có thể nếu không giảm, nhưng cũng sẽ chỉ đi ngang, chứ không còn trạng thái tăng nóng như trong giai đoạn trước.

Mặc dù vậy, một số chuyên gia cho rằng, hiện tại thị trường trong nước vẫn còn có những yếu tố có thể gây áp lực lên tỷ giá. Trong đó, nền kinh tế đang trong giai đoạn phục hồi làm gia tăng nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào của các doanh nghiệp. Đây là yếu tố có thể tác động tăng nhu cầu USD của nền kinh tế trong ngắn hạn, nhưng sẽ dần dịu đi khi các doanh nghiệp kết thúc chu kỳ sản xuất chuyển sang giai đoạn bán hàng thì nguồn ngoại tệ có thể gia tăng từ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Ngoài ra theo bà Hằng, nguồn cung ngoại tệ có thể còn được hỗ trợ vào cuối năm nhờ yếu tố kiều hối./.

Chí Tín

Đọc thêm

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

(TBTCO) - NCB vừa hoàn tất đợt tăng vốn lớn nhất lịch sử với 1 tỷ cổ phiếu phát hành riêng lẻ, thu về 10.000 tỷ đồng, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 29.280 tỷ đồng. Động thái này giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và đẩy nhanh lộ trình tại Phương án cơ cấu lại.
Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lan Hương - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được mở rộng quyền lợi. Đáng chú ý, nhiều bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nay sẽ được chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng.
Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17600 17872 18445
CAD 17966 18241 18856
CHF 31835 32216 32858
CNY 0 3831 3923
EUR 29369 29589 30667
GBP 34045 34435 35367
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14618 15208
SGD 19756 20037 20603
THB 704 767 820
USD (1,2) 26043 0 0
USD (5,10,20) 26084 0 0
USD (50,100) 26113 26127 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26466
AUD 17776 17876 18801
CAD 18156 18256 19270
CHF 32096 32126 33716
CNY 3813.3 3838.3 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31310
GBP 34315 34365 36133
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14713 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19919 20049 20770
THB 0 735 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,466
USD20 26,146 26,196 26,466
USD1 26,146 26,196 26,466
AUD 17,824 17,924 19,036
EUR 29,703 29,703 31,112
CAD 18,106 18,206 19,510
SGD 19,999 20,149 20,703
JPY 158.75 160.25 164.81
GBP 34,232 34,582 35,444
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80