Bài cuối: Những kinh nghiệm quá khứ và một vài tín hiệu mới

Chí Tín
(TBTCO) - Những biến động của thị trường tiền tệ để lại nhiều bài học trong việc điều hành lãi suất và điều này sẽ có thêm nhiều giá trị cho chặng đường phía trước. Mặc dù chịu ảnh hưởng của thị trường thế giới, nhưng một số chuyên gia cũng đánh giá lãi suất của Việt Nam vẫn cao hơn thế giới nên yêu cầu đặt ra vẫn cần phải hạ lãi suất thì mới tăng được sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam. Gần đây, một số ngân hàng đã hạ lãi suất và đây có thể là tín hiệu tích cực về diễn biến lãi suất thời gian tới.
aa
Nhận diện các yếu tố tác động lãi suất trong tương lai
Bài 2: Ẩn số từ tỷ giá

Lãi suất Việt Nam vẫn cao

Sau lần tăng lãi suất gần đây nhất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) vào đầu tháng 2/2022, tổng mức tăng lãi suất của FED trong 1 năm qua sau 8 lần tăng là 4,5%. Theo đó, lãi suất tại Mỹ đã lên đến mặt bằng mức 4,5 - 4,75% và là mức lãi suất cao nhất kể từ tháng 10/2007.

So sánh về mức độ tăng lãi suất của Mỹ và của Việt Nam cho thấy, cả số lần và mức độ tăng lãi suất của Mỹ đều lớn hơn so với Việt Nam rất nhiều. Cụ thể trong suốt năm 2022, Việt Nam chỉ có 2 lần tăng lãi suất điều hành (vào cuối tháng 9 và cuối tháng 10/2022) và tổng mức tăng chỉ là 2%. Tuy nhiên, Mỹ tăng lãi suất nhiều lần với mức độ lớn, nhưng trên nền lãi suất ban đầu khá thấp, thời điểm chưa thực hiện các đợt tăng lãi suất, lãi suất chỉ ở mức 0 - 0,25%.

Lãi suất cần thấp hơn nữa để giảm cho phí tài chính cho doanh nghiệp.
Lãi suất cần thấp hơn nữa để giảm cho phí tài chính cho doanh nghiệp.

Với bối cảnh hiện tại, so sánh mặt bằng lãi suất ở Mỹ và ở Việt Nam có thể thấy lãi suất ở Việt Nam dù tăng chậm hơn ở Mỹ, nhưng mặt bằng lãi suất ở Việt Nam vẫn cao hơn khá nhiều. Cụ thể, lãi suất huy động của các ngân hàng Việt Nam kỳ hạn 3 tháng trở xuống cũng quanh mốc khoảng 6%, lãi suất huy động kỳ hạn 1 năm khoảng 8 - 9,5%. Trong khi đó, lãi suất cho vay cũng đang ở mặt bằng khá cao, với khoảng trên 10%. Mặt bằng lãi suất này cao hơn khá nhiều so với mặt bằng lãi suất ở mức 4,5 - 4,75% tại Mỹ.

Đó là so sánh về lãi suất danh nghĩa, trong khi đó, một số chuyên tài chính thời gian qua cũng đã đưa những con số so sánh kỹ hơn dựa trên lãi suất thực tế trên cơ sở so sánh với tỷ lệ lạm phát. Trong năm 2022, lạm phát là 8% lãi suất cho vay là 4% cho thấy lãi suất thực của họ âm 4%; trong khi đó, năm 2022 lạm phát ở Việt Nam là 3,2%, thấp hơn khá nhiều so với lạm phát của Mỹ và từ đó cho thấy lãi suất thực của Việt Nam còn đang cao hơn Mỹ rất nhiều. Tương tự so sánh với các khu vực khác, châu Âu có mức lạm phát 10%, trong khi lãi suất cho vay của châu Âu còn thấp hơn Mỹ nên lãi suất thực của châu Âu còn thấp hơn ở Mỹ và đương nhiên thấp hơn rất nhiều so với Việt Nam. Điều này cho thấy, lãi suất của Việt Nam cần phải giảm thấp hơn nữa để giảm cho phí tài chính cho doanh nghiệp, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Xuất hiện một vài tín hiệu giảm lãi suất

Thực chất, việc điều hành chính sách tiền tệ cũng đối mặt với nhiều nhiệm vụ cùng lúc nên mục tiêu giảm lãi suất là một nhiệm vụ không hề dễ dàng. TS. Võ Trí Thành - Chuyên gia kinh tế cho biết, thách thức rất lớn của Ngân hàng Nhà nước là cùng lúc phải làm ba nhiệm vụ. Thứ nhất là ổn định kinh tế vĩ mô; thứ hai là trong chừng mực nhất định phải hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh, phục hồi kinh tế; thứ ba là tạo sự an toàn cho hệ thống nói chung, đặc biệt là hệ thống ngân hàng thương mại.

Theo ông Thành, việc nhắm tới cả 3 mục tiêu là không đơn giản, nhưng chúng ta đã trải qua nhiều biến động trong thời gian dài, đối phó với nhiều cú sốc nên có kinh nghiệm ứng xử với cú sốc đó. Thứ hai là chúng ta có nhiều công cụ, giải pháp, có cả giải pháp hành chính, cùng với những giải pháp này, chúng ta có thể lựa chọn mục tiêu ưu tiên trong mỗi giai đoạn, ví dụ như làm sao để ổn định kinh tế vĩ mô tương đối thì đảm bảo biến động tỷ giá để làm chính sách tiền tệ linh hoạt và tương đối so với biến động tỷ giá của các đối tác. Thứ ba, mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam tồn tại nhiều vấn đề nhưng thực tế đã khá ổn định so với giai đoạn cách đây trên dưới 10 năm.

Lãi suất cho vay tiêu dùng có nơi chỉ còn 7,5%

Mới đây, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đã tung ra chương trình cho vay mua ô tô với lãi suất ưu đãi chỉ từ 7,5%/năm. Theo đó, các khách hàng cá nhân có thể vay đến 100% giá trị xe và thời gian vay kéo dài đến 10 năm và ngân hàng này cho biết đây là mức lãi suất thấp và cạnh tranh nhất trên thị trường hiện nay.

Thời gian qua, thị trường tiền tệ cũng đã trải qua một số giai đoạn “rung lắc”, đặc biệt là sau sự cố tại Ngân hàng SCB, khiến cho mặt bằng lãi suất bị leo dốc trong một thời gian. Sau giai đoạn này, các ngân hàng đã có sự bình tĩnh trở lại, thể hiện ở cam kết đồng thuận hạn chế lãi suất huy động không quá 9,5% và đây là yếu tố cơ bản ban đầu để lãi suất ít nhất không bị tăng thêm nữa. Tuy vậy dưới góc độ doanh nghiệp, một số doanh nghiệp vẫn cho rằng lãi suất hiện tại vẫn rất cao làm đội chi phí tài chính đối với doanh nghiệp. Trước bối cảnh hiện nay, vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cũng đã tiếp tục có ý kiến yêu cầu các tổ chức tín dụng nỗ lực tối đa tiết giảm chi phí hoạt động để có dư địa phấn đấu giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế.

Trong khi đó về phía các ngân hàng, một số ngân hàng cũng đã phát đi tín hiệu sẽ hiện thực hóa mục tiêu giảm lãi suất cho khách hàng. Vừa qua, ông Nguyễn Thanh Tùng - Tổng giám đốc Vietcombank cho biết, ngân hàng này đã họp thống nhất các chi nhánh toàn hệ thống thực hiện việc giảm lãi suất huy động, qua đó tạo điều kiện để có thể có dư địa giảm lãi suất cho vay trong thời gian tới. Tín hiệu giảm lãi suất cũng đã xuất hiện ở một số ngân hàng khác, đơn cử, Ngân hàng TMCP Quốc dân vừa qua đã cập nhật biểu lãi suất huy động mới giảm khoảng 1% so với trước Tết; còn Techcombank cũng đã đưa mức lãi suất tối đa hiện nay chỉ còn 9%/năm, thay vì 9,5%/năm như trước kia…

Chí Tín

Đọc thêm

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

(TBTCO) - Trong 5 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực công tác.
Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

(TBTCO) - Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

(TBTCO) - Áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản đang thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Trong khi đó, bài toán lớn của nền kinh tế hiện nay không chỉ là nguồn vốn, mà còn là khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.
Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

(TBTCO) - Tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (trước đây gọi là đại lý thu) phải bảo đảm nguồn lực tài chính, không chậm đóng, trốn đóng tại thời điểm xem xét lựa chọn; có trách nhiệm bồi hoàn trong trường hợp để xảy ra thất thoát, nộp không đúng hạn hoặc gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia.
Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Sau gần một năm thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc triển khai chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn TP. Hải Phòng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được đẩy mạnh.
Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những "tay chơi" lớn

Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những "tay chơi" lớn

(TBTCO) - Giá vàng đang trải qua đợt điều chỉnh mạnh khi vàng thế giới giảm hơn 27% từ đỉnh, còn giá vàng trong nước giảm sâu, với mức giảm khoảng 60 triệu đồng/lượng, xuống thấp nhất kể từ cuối tháng 10/2025. Trong bối cảnh các quỹ ETF vàng bị rút ròng khoảng 2 tỷ USD trong tháng 5 và nhiều tổ chức quốc tế hạ dự báo giá vàng, thị trường vẫn được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▲110K 14,700 ▲110K
Kim TT/AVPL 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,850 ▲250K 14,050 ▲250K
Nguyên Liệu 99.9 13,800 ▲250K 14,000 ▲250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,250 ▲200K 14,650 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,200 ▲200K 14,600 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,130 ▲200K 14,580 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
NL 99.90 13,450 ▲400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲400K
Trang sức 99.9 13,890 ▲160K 14,590 ▲160K
Trang sức 99.99 13,900 ▲160K 14,600 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1280K 14,702 ▲160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1280K 14,703 ▲160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▲16K 1,469 ▲16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▲16K 147 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▲16K 1,454 ▲16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼121680K 14,396 ▼127980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▲1200K 109,211 ▲1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▲1088K 99,032 ▲1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▲976K 88,853 ▲976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲933K 84,927 ▲933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▲667K 60,788 ▲667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Cập nhật: 13/06/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17994 18268 18858
CAD 18273 18549 19165
CHF 32343 32726 33384
CNY 0 3848 3942
EUR 29799 30021 31102
GBP 34464 34856 35794
HKD 0 3226 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15035 15621
SGD 19935 20217 20801
THB 718 781 836
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,412
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 29,989 30,013 31,325
JPY 160.01 160.3 169.32
GBP 34,712 34,806 35,867
AUD 18,203 18,269 18,886
CAD 18,518 18,577 19,187
CHF 32,707 32,809 33,646
SGD 20,094 20,156 20,869
CNY - 3,825 3,956
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 15.98 16.67 18.06
THB 766.48 775.95 827.55
NZD 15,009 15,148 15,536
SEK - 2,742 2,828
DKK - 4,012 4,138
NOK - 2,726 2,811
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,069.64 - 6,823.74
TWD 752.62 - 908.21
SAR - 6,905.98 7,245.63
KWD - 83,539 88,540
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,412
EUR 29,898 30,018 31,205
GBP 34,676 34,815 35,833
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,520 32,651 33,566
JPY 160.23 160.87 168.69
AUD 18,194 18,267 18,859
SGD 20,143 20,224 20,808
THB 783 786 821
CAD 18,497 18,571 19,136
NZD 15,083 15,619
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26142 26142 26412
AUD 18185 18285 19210
CAD 18465 18565 19579
CHF 32668 32698 34276
CNY 3830.9 3855.9 3991.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30024 30054 31779
GBP 34804 34854 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20119 20249 20977
THB 0 750 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 12000000 12000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,120 26,170 26,412
USD20 26,120 26,170 26,412
USD1 23,898 26,170 26,412
AUD 18,179 18,329 19,463
EUR 30,052 30,152 31,603
CAD 18,350 18,503 19,835
SGD 20,185 20,335 20,924
JPY 160.83 162.73 167.52
GBP 34,629 35,029 35,940
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/06/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80