Nhận diện các yếu tố tác động lãi suất trong tương lai

Chí Tín
(TBTCO) - LTS: Mục tiêu giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế vẫn là chủ trương kiên định của Quốc hội và Chính phủ, trong suốt giai đoạn từ sau dịch Covid-19 đến nay. Thời gian qua, thị trường tiền tệ gặp nhiều sóng gió đã khiến mặt bằng lãi suất cũng có nhiều giai đoạn nổi sóng. Trong chặng đường sắp tới, nhiều yếu tố vĩ mô đan xen phức tạp vẫn còn tiềm ẩn, đặt ra thách thức lớn cho việc đưa về mặt bằng lãi suất thấp và kinh nghiệm đã có trong giai đoạn vừa qua sẽ có nhiều giá trị cho việc điều tiết thị trường tiền tệ.
aa

Bài 1: Áp lực từ bên ngoài dịu dần, những yếu tố bất lợi vẫn khó lường

Các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ đều đặt ra nhiệm vụ giảm lãi suất hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, khó khăn liên tục xuất hiện từ bên ngoài do năm 2022, lãi suất chịu sức ép lớn từ thị trường quốc tế khi tình hình lạm phát diễn ra căng thẳng tại nhiều nơi trên thế giới. Xu hướng chung thế giới là tăng lãi suất, khiến Việt Nam vẫn đối mặt với gian nan để có thể "lội ngược dòng" đi ngược xu hướng.

Sức ép bên ngoài dịu dần

Hiện nay, áp lực bên ngoài đã dịu dần, nhưng diễn biến vẫn còn khó lường do xu hướng tăng lãi suất còn chưa dừng hẳn và có thể tái xuất hiện trở lại nếu giá xăng dầu tăng.

Một trong những yếu tố gây áp lực dai dẳng diễn ra suốt từ đầu năm 2022 vẫn là việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) liên tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất liên tục kéo theo xu hướng tăng lãi suất trên nhiều nền kinh tế lớn khác trên thế giới.

Duy trì ổn định đồng tiền, an toàn lành mạnh của hệ thống tổ chức tín dụng là mục tiêu xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước. Ảnh: T.L
Duy trì ổn định đồng tiền, an toàn lành mạnh của hệ thống tổ chức tín dụng là mục tiêu xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước.

Trong lần tăng lãi suất gần đây nhất, FED chỉ nâng lãi suất cơ bản thêm 0,25 điểm phần trăm, lên biên độ 4,5% - 4,75%. Đây tuy là mức lãi suất cao nhất kể từ tháng 10/2007, nhưng biên độ tăng lãi suất của FED đã giảm hơn nhiều so với các lần tăng trước đó. Cụ thể, lần tăng lãi suất vào tháng 12/2022 có mức tăng là 0,5 điểm phần trăm và trước đó là 4 lần tăng lãi suất liên tục với mức tăng mỗi lần là 0,75 điểm phần trăm. Ngoài ra, các chuyên gia trong nước nhận định việc FED tăng lãi suất lần này đã nằm trong dự tính, ngay cả mức tăng rất thấp này cũng đã được dự báo trước nên không quá lo ngại. Do vậy, những tác động tiêu cực từ lần tăng lãi suất hồi đầu tháng 2/2022 đối với thị trường tiền tệ trong nước gần như không đáng kể.

Trong bối cảnh này, ông Trần Đức Anh - Giám đốc Vĩ mô và chiến lược đầu tư, Công ty cổ phần Chứng khoán KB (KBSV) cho biết, có thể sự chú ý của thị trường trong nửa cuối năm 2023 sẽ tập trung vào khả năng nới lỏng chính sách của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, cũng như mức độ suy thoái của kinh tế Mỹ và EU. Một trong những khả năng có thể xảy ra là một cuộc suy thoái nhẹ, nhưng việc này cũng chính là yếu tố vừa đủ để các ngân hàng trung ương đảo ngược chính sách so với trước (nới lỏng chính sách tiền tệ hơn), trong khi không gây tổn thất quá lớn đến kinh tế toàn cầu.

Vẫn còn những tín hiệu khó lường

Thời điểm cuối năm 2022 và trong tháng 1/2023, giới tài chính kỳ vọng FED có thể sẽ chỉ tăng lãi suất khoảng 2 lần trong năm 2023 với biên độ nhẹ và kết thúc vào khoảng quý III/2023. Tuy nhiên, một số tín hiệu gần đây cho thấy, có thể có những dự đoán kém tích cực hơn với khả năng các đợt tăng lãi suất của FED thậm chí còn kéo dài hơn so với dự đoán trước đó.

Dự đoán về việc FED có thể thay đổi lộ trình điều chỉnh lãi suất đang được phản ánh trong các giao dịch quyền chọn lãi suất. Trong một số ngày gần đây, nhà đầu tư đang đặt các giao dịch mạnh tay về việc lãi suất của Mỹ có thể sẽ còn tăng, thậm chí có thể lên tới 6%.

Tuy nhiên đó chỉ là một tín hiệu đơn lẻ, chưa thể hiện được những diễn biến rõ ràng, theo đó, các nhà đầu tư vẫn tiếp tục chờ đợi các số liệu mới về lạm phát để khẳng định được những diễn biến rõ ràng hơn. Hiện nay, một trong những diễn biến có thể sẽ tác động tiêu cực tới nỗ lực kiểm soát lạm phát của các nền kinh tế là giá dầu đang có những dấu hiệu tăng trở lại vào đầu tháng 2/2023.

Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt

Theo Chỉ thị 01/CT-NHNN năm 2023, Ngân hàng Nhà nước xác định sẽ điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, chủ động, linh hoạt, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát như mục tiêu năm 2023 là khoảng 4,5%, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ trưởng kinh tế hợp lý.

Trong khi đó, với góc nhìn từ Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm thận trọng khi nhìn nhận về các diễn biến phức tạp của thị trường tài chính quốc tế. Từ thời điểm cuối tháng 12/2022, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã đưa dự báo thậm chí FED có thể sẽ còn tăng lãi trong cả năm 2023 và kéo dài cuối 2024 mới giảm lãi suất. Với góc nhìn này, ông Quang cho biết, mặt bằng lãi cao trên thị trường tài chính quốc tế sẽ tiếp tục duy trì, tác động lên xu hướng dịch chuyển dòng vốn trên toàn cầu.

"Với những yếu tố hiện tại, định hướng của Ngân hàng Nhà nước là không chủ quan với lạm phát, mục tiêu xuyên suốt là duy trì sự ổn định đồng tiền, an toàn lành mạnh của hệ thống tổ chức tín dụng" - ông Quang trao đổi thêm.

Chí Tín

Đọc thêm

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng cường nhận diện rủi ro, chống rửa tiền

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng cường nhận diện rủi ro, chống rửa tiền

(TBTCO) - Thông tin từ Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước) cho thấy, nguy cơ rửa tiền lĩnh vực bảo hiểm được đánh giá ở mức trung bình thấp. Dù vậy, trong bối cảnh Việt Nam nằm trong “danh sách xám”, việc nhận diện rủi ro từ khách hàng, sản phẩm và kênh phân phối trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và xây dựng biện pháp kiểm soát vẫn là yêu cầu cấp thiết.
Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Sáng ngày 9/4, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.102 VND/USD. Trong biên độ 5%, tỷ giá ngân hàng dao động 23.847 - 26.357 VND/USD, trong khi thị trường tự do rớt mất mốc 27.000 đồng. Chỉ số DXY quanh 99,07 điểm, biến động trước rủi ro địa chính trị, tình trạng gián đoạn tại eo biển Hormuz vẫn chưa được giải quyết triệt để, bất chấp lệnh ngừng bắn tạm thời.
VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế khi đồng thời được vinh danh tại hai giải thưởng quốc tế quan trọng: “Ngân hàng dành cho Khách hàng doanh nghiệp tốt nhất Việt Nam” và “Nền tảng số dành cho đơn vị chấp nhận thanh toán tốt nhất Việt Nam” trong khuôn khổ International Finance Awards 2025.
Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu bảo hiểm 4.139 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 320 tỷ đồng, giảm 14,2%. Doanh nghiệp tiếp tục định hướng tăng trưởng thận trọng, tối ưu hiệu quả. Đồng thời, PTI dự kiến phát hành cổ phiếu tăng vốn theo tỷ lệ 2:1 và "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%.
Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

(TBTCO) - Trong bối cảnh nhu cầu tài chính cá nhân gia tăng và hành vi người dùng dịch chuyển mạnh sang môi trường số, VietCredit đẩy mạnh hệ sinh thái Tin Vay - giải pháp vay tiêu dùng cá nhân tích giúp người Việt tiếp cận khoản vay nhanh chóng và thuận tiện.
Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

(TBTCO) - Manulife Việt Nam vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với kết quả kinh doanh tích cực, tiếp tục khẳng định định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm trong hoạt động vận hành và phát triển sản phẩm và dịch vụ.
Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

(TBTCO) - Với mục tiêu lợi nhuận trước thuế hơn 6.450 tỷ đồng năm 2026, VPBankS đang bước vào giai đoạn tăng tốc mới, nơi các cấu phần kinh doanh cốt lõi được định vị rõ ràng hơn. Trong bối cảnh đó, việc thị trường chứng khoán Việt Nam vừa chính thức được nâng hạng kỳ vọng sẽ trở thành “lực đẩy” quan trọng.
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼250K 17,160 ▼350K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼230K 17,150 ▼330K
Nguyên Liệu 99.99 15,750 ▼140K 15,950 ▼140K
Nguyên Liệu 99.9 15,700 ▼140K 15,900 ▼140K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼310K 16,950 ▼310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼310K 16,900 ▼310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼310K 16,880 ▼310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼300K 17,100 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼300K 17,100 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼300K 17,100 ▼300K
NL 99.90 15,470 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500 ▼150K
Trang sức 99.9 16,290 ▼300K 16,990 ▼300K
Trang sức 99.99 16,300 ▼300K 17,000 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▲1514K 17,152 ▼350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▲1514K 17,153 ▼350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 168 ▼1537K 171 ▼1574K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 168 ▼1537K 1,711 ▼35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 166 ▼1519K 1,695 ▲1522K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,322 ▼3465K 167,822 ▼3465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,388 ▼2625K 127,288 ▼2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,522 ▼2380K 115,422 ▼2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,655 ▼2136K 103,555 ▼2136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,078 ▼2041K 98,978 ▼2041K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,939 ▼1459K 70,839 ▼1459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Cập nhật: 09/04/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17964 18238 18814
CAD 18454 18731 19347
CHF 32605 32989 33637
CNY 0 3800 3870
EUR 30046 30320 31345
GBP 34425 34817 35743
HKD 0 3229 3431
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15033 15621
SGD 20088 20371 20897
THB 735 799 852
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26140 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,253 30,277 31,526
JPY 161.63 161.92 170.62
GBP 34,707 34,801 35,783
AUD 18,227 18,293 18,868
CAD 18,698 18,758 19,330
CHF 32,924 33,026 33,787
SGD 20,270 20,333 21,009
CNY - 3,789 3,909
HKD 3,302 3,312 3,430
KRW 16.41 17.11 18.51
THB 785.72 795.42 846.39
NZD 15,052 15,192 15,548
SEK - 2,781 2,862
DKK - 4,048 4,165
NOK - 2,705 2,784
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,194.83 - 6,948.76
TWD 748.85 - 901.61
SAR - 6,915.31 7,239.3
KWD - 83,816 88,631
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,126 30,247 31,426
GBP 34,635 34,774 35,779
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,674 32,805 33,730
JPY 161.86 162.51 169.83
AUD 18,175 18,248 18,837
SGD 20,292 20,373 20,956
THB 800 803 838
CAD 18,661 18,736 19,300
NZD 15,089 15,620
KRW 17.05 18.73
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26357
AUD 18148 18248 19173
CAD 18638 18738 19754
CHF 32848 32878 34457
CNY 3789.4 3814.4 3949.6
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30227 30257 31982
GBP 34713 34763 36524
HKD 0 3355 0
JPY 162.07 162.57 173.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15145 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20249 20379 21110
THB 0 765.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,154 26,204 26,357
USD20 26,154 26,204 26,357
USD1 26,154 26,204 26,357
AUD 18,224 18,324 19,433
EUR 30,407 30,407 31,818
CAD 18,604 18,704 20,013
SGD 20,346 20,496 21,062
JPY 162.83 164.33 168.91
GBP 34,664 35,014 36,140
XAU 16,748,000 0 17,152,000
CNY 0 3,702 0
THB 0 800 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/04/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80