Cơ hội sẽ “sáng” hơn cho cổ phiếu ngân hàng cuối năm?

Duy Thái
(TBTCO) - Ngành ngân hàng dự báo sẽ có tăng trưởng tích cực hơn trong những tháng cuối năm khi nhìn vào tăng trưởng tín dụng. Do đó, dự báo cho rằng, cổ phiếu ngân hàng nhìn chung là các cơ hội đầu tư có tiềm năng tốt trong nửa cuối năm 2022, trong đó đáng chú ý hơn là nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân.
aa

Chờ sóng từ việc phân bổ room tín dụng

Mặc dù chưa có số liệu đầy đủ về kết quả kinh doanh quý II/2022, nhưng qua kết quả kinh doanh quý đầu năm đã công bố, cũng như dự báo của nhiều chuyên gia công ty chứng khoán, thì ngành ngân hàng vẫn duy trì sự tăng trưởng tích cực nhờ vào sự phục hồi của kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, một số ngân hàng niêm yết đã có hé lộ về kết quả kinh doanh nửa đầu năm 2022 khá tích cực.

Tuy nhiên, trên thị trường cổ phiếu, các cổ phiếu ngân hàng vẫn chưa thực sự lấy lại phong độ. Nhiều cổ phiếu ngân hàng đã có dấu hiệu hút dòng tiền trở lại, nhưng chưa thể hiện được vai trò dẫn dắt và mặt bằng giá vẫn ở mức thấp qua nhịp hồi phục của thị trường.

Dòng tiền kỳ vọng sẽ tìm tới những cổ phiếu ngân hàng sẽ được nới trần room tín dụng. Ảnh: Duy Dũng
Dòng tiền kỳ vọng sẽ tìm tới những cổ phiếu ngân hàng sẽ được nới trần room tín dụng. Ảnh: Duy Dũng

Cùng với việc tăng trưởng về kết quả kinh doanh, tăng trưởng tín dụng là một điểm sáng của ngành ngân hàng trong nửa đầu năm. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 30/6 và so với cuối năm 2021, tín dụng tăng 9,35% (so với mức 6,47% vào 2021), tương đương với mức tăng 16,7% so với cùng kỳ. Mức tín dụng tăng nhanh cũng sẽ đồng nghĩa với việc một số ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc cạn room tín dụng.

Mới đây, trong hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã nhấn mạnh việc duy trì mức tăng trưởng tín dụng trong năm 2022 là 14%, tuy nhiên sẽ có bộ tiêu chí thống nhất để minh bạch phân bổ việc nâng hạn mức tăng trưởng tín dụng cho từng ngân hàng thương mại.

Đánh giá về điều này, các chuyên gia của SSI Research cho rằng, quan điểm điều hành của Ngân hàng Nhà nước vẫn tương đối thận trọng, trước áp lực lạm phát cũng như áp lực mất giá của tiền Đồng. “Với mức tăng trưởng tín dụng chỉ 14% trong năm 2022, chỉ có gần 500 nghìn tỷ đồng sẽ được giải ngân trong nửa cuối năm (so với mức gần 1 triệu tỷ đồng trong nửa đầu năm). Điều này giúp cải thiện mức chênh lệch giữa tín dụng - huy động vốn và từ đó giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất huy động” - Các chuyên gia của SSI Research cho hay.

Một số ý kiến khác cho rằng, cổ phiếu ngân hàng sẽ có diễn biến khả quan hơn khi các thông tin về nới room tín dụng được công bố. Sự phân hóa có thể diễn ra trong nội bộ nhóm ngành này, nhưng dòng tiền sẽ “men theo” các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt và được nới trần tín dụng.

Đã đến thời điểm quay lại với cổ phiếu “vua”?

Trao đổi với báo giới mới đây về triển vọng cổ phiếu ngân hàng, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc khối Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (YSVN) cho rằng, việc nới room tín dụng ngân hàng nếu thực hiện được trong quý III sẽ có tác động rất tích cực lên cổ phiếu ngành này. Cùng với đó, nếu các ngân hàng được nới room tín dụng cũng sẽ là thông tin tốt cho thị trường chứng khoán, khi nhóm “bank” có tỷ trọng vốn hóa lớn nhất. Mặt khác, khi room tín dụng được nới cũng sẽ tạo động lực tăng trưởng kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Lợi nhuận quý II của các ngân hàng sẽ khả quan

Theo các chuyên gia của SSI Research, khả năng nhóm ngân hàng sẽ tạm thời thể hiện vai trò nâng đỡ thị trường về mặt điểm số khi áp lực trích lập dự phòng là chưa lớn, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức cao, thu nhập lãi thuần và biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng dự báo sẽ tiếp tục duy trì khả quan trong quý II/2022. Dự báo, lợi nhuận trước thuế bình quân của nhóm ngân hàng sẽ đạt trên 20% và một số ngân hàng lớn có thể đạt mức tăng trưởng lợi nhuận trên 40% trong quý II/2022 so với cùng kỳ.

Với kịch bản tích cực là room tín dụng được nới trong quý III, chuyên gia của YSVN dự báo, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ngành ngân hàng năm 2022 sẽ đạt 21%, vẫn đảm bảo tỷ suất tốt với mặt bằng chung thị trường hiện nay.

Đặc biệt hơn, theo chuyên gia này, hiện tại mức định giá của nhóm cổ phiếu ngân hàng đang về mức hấp dẫn. Theo đó, xét về định giá, hiện giá trị thị trường/giá trị sổ sách (P/B) dự phòng năm 2022 của nhóm ngân hàng mới là 1,2 lần, thấp hơn nhiều so với mức định giá chuẩn là 2 lần, nên về góc độ định giá là hấp dẫn cho cổ phiếu ngân hàng giai đoạn hiện nay.

Do vậy, “đây là thời điểm an toàn để quay lại với cổ phiếu “vua”, bởi nhóm này đang hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi và có thể trở thành nhóm cổ phiếu dẫn dắt thị trường trong những tháng cuối năm” - ông Nguyễn Thế Minh cho hay.

Các chuyên gia của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng cho rằng, cổ phiếu ngành ngân hàng kỳ vọng sẽ tạo được sắc xanh cho thị trường từ triển vọng kết quả kinh doanh tích cực, trong khi giá đã chiết khấu khá nhiều tính từ đầu năm.

Còn theo các chuyên gia của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS): “Chúng tôi duy trì dự báo tích cực đối với lợi nhuận trước thuế toàn ngành ngân hàng trong năm 2022. Tuy nhiên, mức độ tích cực sẽ giảm dần trong nửa cuối năm 2022 và năm 2023, đặc biệt trong năm 2023 sẽ có sự phân hóa rõ rệt về triển vọng lợi nhuận giữa các nhóm ngân hàng”.

Các chuyên gia của VCBS đánh giá, triển vọng đầu tư cổ phiếu ngành ngân hàng đang ở mức phù hợp, với mức định giá xấp xỉ mức trung bình 5 năm. Các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt và tốc độ tăng trưởng vượt trội so với ngành sẽ vẫn nằm trong nhóm có thể xem xét đầu tư trong dài hạn.

Duy Thái

Đọc thêm

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

(TBTCO) - SACOMBANK dự kiến chào bán ra công chúng tối đa 15.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 7 - 10 năm, với lãi suất thả nổi, biên độ tối đa 4,2%/năm. Kế hoạch diễn ra khi ngân hàng đẩy mạnh huy động qua trái phiếu, số dư kỳ phiếu, trái phiếu cuối tháng 6/2026 lên 18.300 tỷ đồng, cao nhất nhiều năm; một số lô gần đây có lãi suất lên tới 12,5%/năm.
VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái  xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

(TBTCO) - VietinBank chính thức triển khai hợp tác chiến lược 3 bên cùng Công ty Cổ phần Văn hóa Ngôi Nhà Xanh (GreenHouse) - đơn vị vận hành nền tảng và Ingrid International Pte. Ltd (Ingrid International) - đơn vị tư vấn chiến lược, phát triển hệ sinh thái, hướng tới xây dựng hệ sinh thái xanh AI & thông minh, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam.
FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 143,500
Hà Nội - PNJ 140,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 140,500 143,500
Miền Tây - PNJ 140,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 140,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 04/10/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17533 17806 18390
CAD 17699 17973 18596
CHF 30705 31081 31728
CNY 0 3833 3929
EUR 28610 28827 29907
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14290 14885
SGD 19762 20043 20627
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 04/10/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30