FED có thể vẫn tăng lãi suất và “thế khó” với trong nước

Chí Tín
(TBTCO) - Sau khi FED tăng lãi suất lần thứ 10 vào tháng 5/2023, nhiều dự báo cho rằng chuỗi các đợt tăng lãi suất sẽ dừng lại. Tuy nhiên, một số dự báo gần đây lại cho rằng, FED có thể vẫn tiếp tục tăng lãi suất vào tháng 6 và kịch bản này nếu diễn ra sẽ là một bối cảnh khó cho mục tiêu tiếp tục giảm lãi suất trong nước.
aa
FED có thể vẫn tăng lãi suất và “thế khó” với trong nước
Nguồn: Vietdata Đồ hoạ: TL

Vẫn có khả năng FED còn tăng lãi suất

Lần tăng lãi suất gần đây nhất của Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED) diễn ra vào đầu tháng 5/2023, khi đó, lãi suất được FED tăng thêm 25 điểm cơ bản (0,25 điểm phần trăm) và ghi nhận lần tăng lãi suất thứ 10 kể từ tháng 3/2022. Phạm vi lãi suất liên bang theo đó đã tăng lên mức 5 - 5,25%, mức cao nhất kể từ năm 2007. Mặc dù vậy, thị trường tài sản lại có những tín hiệu “ngược” sau lần tăng lãi suất này của FED, giá vàng bật tăng mạnh vượt lên trên 2.000 USD/ounce và có thời điểm tiến tới mốc 2.060 USD/ounce.

Đây được coi là một động thái “ngược” bởi thông thường giá vàng và lãi suất diễn biến ngược chiều nhau, tức sau khi lãi suất tăng thường có tác động làm giảm giá vàng. Tuy nhiên, tính chất của đợt tăng lãi suất hồi đầu tháng 5 của FED có những yếu tố khác những lần trước, khi nhiều nhà đầu tư kỳ vọng đây có thể là đợt tăng cuối cùng và lãi suất sẽ bước vào giai đoạn đi ngang trước khi chuyển hướng giảm dần.

Song một số dự báo gần đây đang có những thay đổi so với thời điểm đầu tháng 5, khi FED để mở khả năng vẫn có thể có thêm đợt tăng lãi suất tiếp theo vào tháng 6/2023. Một số yếu tố dẫn đến tâm lý lo ngại việc FED có thể vẫn tăng suất là tình trạng lạm phát tại Mỹ hiện vẫn cao hơn nhiều so với mức mục tiêu 2% của FED. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 vừa qua của Mỹ tăng 4,9% và chỉ số CPI lõi (đã loại bỏ giá thực phẩm và giá năng lượng) tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2022.

Tâm lý lo lắng về việc chưa dừng tăng lãi suất là một trong những yếu tố tác động làm giảm giá vàng trong giai đoạn gần đây. Trên thị trường thế giới, giá vàng có lúc giảm về mốc chỉ còn khoảng 1.950 USD/ounce, mặc dù đã có một số phiên phục hồi gần đây nhưng kịch bản khó xảy ra cho việc kim loại quý này quay lại vượt mốc 2.000 USD/ounce.

“Thế khó” cho lãi suất trong nước

Diễn biến lãi suất trong nước thời gian qua đã giảm so với cuối năm 2022. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), lãi suất tiền gửi bình quân phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức khoảng 6,3%/năm (giảm 0,18%/năm so với cuối năm 2022). Lãi suất cho vay bình quân đồng Việt Nam phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức khoảng 9,3%/năm (giảm 0,65%/năm so với cuối năm 2022).

Mặc dù vậy, diễn biến lãi suất vẫn chưa đạt kỳ vọng của Quốc hội, Chính phủ cũng như cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Báo cáo thẩm tra kinh tế xã hội do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa cập nhật vẫn có đánh giá cho rằng, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân vẫn ở mức cao.

Trong nội dung chỉ đạo với ngành Ngân hàng tại sự kiện Ngày chuyển đổi số ngành Ngân hàng diễn ra mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái cũng tiếp tục đề cập vấn đề lãi suất khi cho biết, ngành Ngân hàng cần tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực thi các giải pháp để giảm chi phí hoạt động, từ đó tiếp tục giảm lãi suất.

“Căn cứ tình hình lạm phát, ngành Ngân hàng cần chia sẻ lợi ích với doanh nghiệp, qua đó cùng nhau tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn hiện nay. Đó là yếu tố quan trọng góp phần triển khai hiệu quả sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng” - Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Về phía NHNN, trong phần nội dung giải thích vừa qua về vấn đề mặt bằng lãi suất còn cao, cơ quan này cho rằng, bối cảnh hiện nay các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới vẫn tiếp tục triển khai lộ trình thắt chặt chính sách tiền tệ và duy trì lãi suất ở mức cao.

Trở lại các dự báo mới đây về động thái của FED, hiện nay, các cơ sở khẳng định việc có thể tăng lãi suất trong tháng 6 cũng mới chỉ là các yếu tố mang tính chất lo ngại chứ chưa được khẳng định hoàn toàn. Công cụ dự báo CME FedWatch (một công cụ của CME Group bao gồm các chỉ số giúp dự báo lãi suất của FED) hiện nhận thấy 44% khả năng lãi suất sẽ tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 6.

Theo số liệu này, xác suất xảy ra khả năng FED tăng lãi suất trong tháng 6 cũng chỉ dưới 50%, nhưng nếu việc tăng lãi suất từ FED diễn ra thì đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lãi suất chung trên thế giới nói chung và Việt Nam ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng bởi xu hướng này.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, những tháng đầu năm 2023, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn do tác động của kinh tế toàn cầu. Các ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình hoạt động, riêng về lãi suất dù đã hạ nhiệt sau quyết định hạ lãi suất điều hành của NHNN nhưng vẫn ở mức cao.

Lý do là các khoản huy động vốn của ngân hàng chủ yếu là kỳ hạn ngắn, trong khi các khoản cho vay dài hạn lại chưa thu hồi được. Các khoản huy động cũ lãi suất cao chưa đáo hạn cũng khiến các ngân hàng vẫn chưa thể giảm mạnh lãi suất cho vay.

Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất tái cấp vốn và trần lãi suất tiền gửi

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố 2 quyết định hạ lãi suất điều hành. Trong đó, Quyết định số 950/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng (TCTD) giảm từ mức 6,0%/năm xuống 5,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn giảm từ mức 5,5%/năm xuống 5,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu giữ nguyên ở mức 3,5%/năm.

Quyết định số 951/QĐ-NHNN về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại TCTD theo quy định tại Thông tư số 07/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ mức 5,5%/năm xuống 5,0%/năm.

Riêng lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô giảm từ mức 6,0%/năm xuống 5,5%/năm. Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường. Các quyết định có hiệu lực từ ngày 25/5/2023./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 21/09/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 21/09/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30