FED tăng lãi suất và những áp lực với thị trường tiền tệ trong nước

Chí Tín
(TBTCO) - Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) vừa chính thức tiếp tục tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm. Điều này có thể sẽ ảnh hưởng đáng kể đến thị trường tiền tệ trong nước, đặc biệt liên quan đến lãi suất và tỷ giá. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ hợp lý và cố gắng giữ mặt bằng lãi suất cho vay ổn định để hỗ trợ sản xuất kinh doanh.
aa

FED chính thức tăng lãi suất

Rạng sáng ngày 16/6 theo giờ Việt Nam, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã chính thức công bố việc tăng lãi suất cơ bản thêm 0,75 điểm phần trăm. Đây cũng là lần tăng lãi suất lớn nhất của FED trong vòng gần 30 năm qua, kể từ năm 1994.

Không chỉ dừng lại ở đây, FED có thể tiếp tục thực hiện các đợt tăng lãi suất tiếp theo trong thời gian tới nếu tình hình lạm phát ở nước này chưa được cải thiện. Theo chia sẻ của đại diện FED thì dù họ không muốn việc tăng này trở nên phổ biến, nhưng vẫn hé lộ họ vẫn có thể bàn bạc việc nâng lãi thêm 0,75 điểm phần trăm hay khoảng 0,5 điểm phần trăm trong phiên họp kế tiếp vào cuối tháng 7.

FED tăng lãi suất và những áp lực với thị trường tiền tệ trong nước
FED tăng lãi suất và những áp lực với thị trường tiền tệ trong nước. Ảnh: T.L
Lạm phát và lãi suất đang kìm hãm tăng trưởng kinh tế toàn cầu Fed khẳng định quyết tâm kiềm chế lạm phát bằng cách tăng lãi suất Giới chức Fed: Việc tăng lãi suất vào tháng 9 là chắc chắn

Với xu hướng hiện tại, mặt bằng lãi suất tại Mỹ có thể sẽ tiếp tục “leo dốc” trong nửa cuối năm 2022 và có thể kéo sang cả năm 2023. Trong biểu đồ khảo sát quan điểm của các thành viên Ủy ban Thị trường Mở liên bang Mỹ, lãi suất tiêu chuẩn vào cuối năm nay được kỳ vọng sẽ tăng lên mức 3,4%, cao hơn 1,5 điểm phần trăm so với ước tính hồi tháng 3. Trong năm 2023, lãi suất dự kiến sẽ được duy trì ở mức 3,8%.

Với xu hướng tăng lãi suất như vậy, dự báo lạm phát cơ bản tại Mỹ sẽ được kỳ vọng sẽ khống chế ở 4,3% vào cuối năm nay và giảm xuống còn 2,7% trong năm 2023. Trong bối cảnh này, FED dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2022 chỉ đạt 1,7%, giảm thấp hơn khá nhiều so với mức dự báo khoảng 2,8% được đưa ra vào tháng 3/2022.

Quan sát diễn biến sau động thái tăng lãi suất của FED, cả giá vàng và các chỉ số chứng khoán Mỹ đều đi lên. Nhà đầu tư đánh giá động thái của FED là cam kết vững chắc với quyết tâm hạ nhiệt lạm phát.

Những động thái với thị trường trong nước

Đưa ra đánh giá về ảnh hưởng của việc FED tăng lãi suất đối với thị trường tiền tệ trong nước, các chuyên gia tài chính cho rằng sẽ có những ảnh hưởng, tuy nhiên việc đo lường mức độ ảnh hưởng đến đâu cần phải có thời gian để quan sát.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Lê Thành Hòa - Chuyên gia phân tích thuộc Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho biết, việc tăng lãi suất của FED ít nhiều có thể có những tác động lên dòng tiền do nhà đầu tư tài chính có xu hưởng chuyển các khoản đầu từ các nước khác về đầu tư vào thị trường tài chính trong nước. Điều này khiến cho các nền kinh tế ngoài Mỹ cũng chịu sức ép phải tăng lãi suất để giữa chân dòng vốn, thị trường tài chính Việt Nam theo đó cũng có thể cũng bị ảnh hưởng chung bởi xu hướng này.

Ở góc độ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đại diện cơ quan này cho biết, không chỉ đến thời điểm này mà nền kinh tế trong nước vẫn chịu sức ép rất lớn từ xu hướng tăng lãi suất trên thị trường quốc tế thời gian qua. Tuy nhiên, lãi suất cho vay trong nước vẫn được Ngân hàng Nhà nước điều hành giữ ổn định cho đến thời điểm này để đảm bảo hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp.

Theo thống kê của ông Phạm Chí Quang - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chính sách Tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, riêng trong năm 2021 có tới 113 lượt tăng lãi suất trên thế giới. Trong khi đó tại thị trường trong nước, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại vẫn thực hiện 3 đợt giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp. Mức hạ lãi suất tại Việt Nam theo đó cũng là mức giảm nhiều nhất trong khu vực ASEAN.

Xu hướng tăng lãi suất vẫn còn tiếp tục gia tăng và riêng trong 5 tháng đầu năm 2022 đã có 144 lượt tăng lãi suất trên thế giới. “Điều này cho thấy việc chúng ta duy trì được mặt bằng lãi suất như hiện tại là nỗ lực rất lớn trong bối cảnh hiện tại để hướng tới mục đích giữ lãi suất cho vay hợp lý, không gây gánh nặng chi phí tài chính cho các doanh nghiệp và người dân”- ông Quang nói.

Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính, tác động của việc FED tăng lãi suất lần này và cả các lần trước đó cũng ảnh hưởng đến tỷ giá bởi lãi suất tại Mỹ tăng sẽ có tác động làm cho đồng USD có xu hướng tăng giá so với các đồng tiền khác.

Trong nửa đầu năm 2022, các đồng tiền trong khu vực như Nhân dân tệ của Trung Quốc, Won Hàn Quốc, Bath Thái Lan, Yên Nhật Bản… đều mất giá mạnh so với Đô la Mỹ. Trong khi đó, các quốc gia trong khu vực nêu trên đều là các đối tác quan trọng về các quan hệ thương mại và đầu tư đối với Việt Nam. Theo ông Quang, trong bối cảnh này, Ngân hàng Nhà nước theo chỉ đạo của Chính phủ đã xác định mục tiêu vẫn duy trì ổn định tỷ giá và cho đến nay, đồng Việt Nam cũng chỉ giảm giá rất nhẹ so với USD.

Đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế

Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ vẫn tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, đồng thời sẵn sàng cung ứng đủ nguồn vốn cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế.

Trong điều hành lãi suất, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành mặc dù chịu áp lực từ xu hướng tăng lãi suất trên toàn cầu, nhằm tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất - kinh doanh.

Chí Tín

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,050 ▼100K 15,450 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,000 ▼100K 15,400 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,930 ▼100K 15,380 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼1000K 157,500 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼1000K 157,500 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼1000K 157,500 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼1000K 157,500 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼1000K 157,500 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼1000K 157,500 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼100K 15,750 ▼100K
NL 99.90 14,100 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,150 ▼100K
Trang sức 99.9 14,940 ▼100K 15,640 ▼100K
Trang sức 99.99 14,950 ▼100K 15,650 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼10K 15,752 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼10K 15,753 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼10K 1,573 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼10K 1,574 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼10K 1,558 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼991K 154,257 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼750K 117,012 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼680K 106,105 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼610K 95,198 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼74465K 9,099 ▼82475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼417K 65,125 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼10K 1,575 ▼10K
Cập nhật: 02/06/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18305 18581 19156
CAD 18482 18759 19373
CHF 32800 33185 33830
CNY 0 3851 3944
EUR 29990 30263 31291
GBP 34616 35008 35942
HKD 0 3228 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15282 15867
SGD 20047 20329 20850
THB 723 786 840
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26398
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,118 26,118 26,398
USD(1-2-5) 25,074 - -
USD(10-20) 25,074 - -
EUR 30,161 30,185 31,505
JPY 160.67 160.96 170.03
GBP 34,856 34,950 36,019
AUD 18,547 18,614 19,246
CAD 18,695 18,755 19,372
CHF 33,105 33,208 34,056
SGD 20,201 20,264 20,981
CNY - 3,824 3,954
HKD 3,297 3,307 3,432
KRW 16.09 16.78 18.18
THB 771.63 781.16 833.36
NZD 15,274 15,416 15,810
SEK - 2,784 2,872
DKK - 4,036 4,162
NOK - 2,791 2,879
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,216.29 - 6,988.77
TWD 759.26 - 916.23
SAR - 6,907.93 7,247.68
KWD - 83,672 88,681
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,398
EUR 30,054 30,175 31,377
GBP 34,791 34,931 35,965
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 32,881 33,013 33,955
JPY 160.98 161.63 169.03
AUD 18,496 18,570 19,174
SGD 20,231 20,312 20,908
THB 788 791 826
CAD 18,665 18,740 19,320
NZD 15,332 15,878
KRW 16.70 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26398
AUD 18480 18580 19506
CAD 18660 18760 19771
CHF 33037 33067 34650
CNY 3830.9 3855.9 3991.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30166 30196 31919
GBP 34907 34957 36718
HKD 0 3355 0
JPY 161.31 161.81 172.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15382 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20201 20331 21052
THB 0 752.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 13500000 13500000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,394
USD20 26,147 26,197 26,394
USD1 23,882 26,197 26,394
AUD 18,598 18,698 19,799
EUR 30,357 30,357 31,767
CAD 18,662 18,762 20,069
SGD 20,300 20,450 21,013
JPY 161.99 163.49 168.05
GBP 34,815 35,165 36,031
XAU 15,598,000 0 15,902,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/06/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80