Agribank lấy khách hàng làm trung tâm chuyển đổi số

Tuấn Nguyễn
(TBTCO) - Để thúc đẩy hoạt động kinh doanh tiếp tục phát triển, hoàn thành kế hoạch đề ra trong năm 2025, tạo tiền đề phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo, Agribank tập trung hiện thực hóa mục tiêu “Lấy khách hàng làm trung tâm”, triển khai các giải pháp phát triển khách hàng, thúc đẩy chuyển đổi số năm 2025.
aa
Agribank lấy khách hàng làm trung tâm chuyển đổi số
Agribank vinh danh các đơn vị có thành tích đặc biệt xuất sắc đóng góp vào kết quả hoàn thành kế hoạch kinh doanh quý I/2025. Ảnh: AGRIBANK

Các chỉ tiêu kinh doanh đạt kết quả khá tích cực

Để thúc đẩy chuyển đổi số và triển khai các giải pháp phát triển khách hàng, Agribank vừa tổ chức Hội nghị “Triển khai các giải pháp phát triển khách hàng, thúc đẩy chuyển đổi số năm 2025” nhằm xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để hiện thực hóa mục tiêu: Lấy khách hàng làm trung tâm chuyển đổi số, thúc đẩy hoạt động kinh doanh tiếp tục phát triển, hoàn thành kế hoạch đề ra trong năm 2025, tạo tiền đề phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

Dựa trên cơ sở nhận diện, phân tích thực trạng, những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, thách thức, nền kinh tế Việt Nam đang tiếp tục phải đối mặt, hội nghị là cơ hội để toàn hệ thống Agribank kịp thời nắm bắt thông tin, đánh giá đúng thực trạng. Qua đó xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần tập trung triển khai nhằm phát triển khách hàng, chuyển đổi số, thúc đẩy hoạt động kinh doanh tiếp tục phát triển trong những tháng tiếp theo của năm 2025.

Với sự quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, linh hoạt trong tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, toàn hệ thống Agribank đã phát huy sức mạnh đoàn kết, nỗ lực tối đa vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành toàn diện và vượt mức các chỉ tiêu kinh doanh được Ngân hàng Nhà nước giao, từ đó phấn đấu hoàn thành các mục tiêu cơ cấu lại.

Kết quả đến cuối quý I/2025, các chỉ tiêu kinh doanh của Agribank đạt kết quả khá tích cực, nhất là về tăng trưởng tín dụng, nguồn vốn. Tính bình quân giai đoạn tái cơ cấu 2021 - 2024 và quý I/2025, các chỉ tiêu kinh doanh cơ bản đảm bảo tiến độ và khả năng thực hiện thành công phương án cơ cấu lại ngân hàng đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Trong đó, nguồn vốn và dư nợ tăng trưởng đều trong 3 tháng đầu năm, mức tăng tháng sau cao hơn tháng trước, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2024 và đạt kết quả tích cực so với cùng kỳ 3 năm gần đây.

Tính đến ngày 25/3/2025, tổng nguồn vốn huy động đạt trên 2,07 triệu tỷ đồng, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt gần 1,75 triệu tỷ đồng. Dư nợ khách hàng pháp nhân tăng trưởng qua các năm với tỷ lệ tăng trưởng bình quân 4,7% hàng năm, dư nợ xử lý rủi ro qua các năm tăng dần từ năm 2020 - 2024 cho thấy quyết tâm trong công tác cơ cấu lại nền khách hàng pháp nhân.

Đóng góp vào sự tăng tốc, bứt phá của đất nước

Agribank lấy khách hàng làm trung tâm chuyển đổi số
Agribank không ngừng nỗ lực trong việc ứng dụng công nghệ số hiện đại, gia tăng tiện ích cho khách hàng.

Hàng năm, Agribank đều tập trung phát triển khách hàng mới; riêng năm 2024, Agribank đã có sự thay đổi tích cực trong việc thiết lập quan hệ và cấp tín dụng đối với các khách hàng lớn, các tập đoàn/tổng công ty. Tuy vậy, kết quả đạt được trong giai đoạn vừa qua chưa đồng đều giữa các khu vực, chi nhánh. Đó là, bên cạnh những chi nhánh, khu vực nỗ lực cao, đạt kết quả kinh doanh tốt, vẫn còn một số chi nhánh chưa khai thác được tiềm năng, thế mạnh trên địa bàn.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng nhấn mạnh, để tránh nguy cơ tụt hậu về công nghệ và sản phẩm dịch vụ, toàn hệ thống cần khẩn trương, chung tay khắc phục các tồn tại, hạn chế có thể gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Agribank, thúc đẩy triển khai có hiệu quả các giải pháp nhằm phát triển khách hàng, chuyển đổi số, duy trì ổn định, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh.

Theo đó, Tổng Giám đốc Agribank yêu cầu các đơn vị tích cực đóng góp ý kiến, đề xuất giải pháp kinh doanh cho hệ thống. Trong đó, tập trung đánh giá, phân tích, làm rõ thực trạng các mặt hoạt động kinh doanh đến cuối năm 2024 và quý I/2025, đánh giá công tác phát triển khách hàng theo từng đối tượng khách hàng, lĩnh vực, địa bàn... ; từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục cụ thể, thiết thực nhằm hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Các đơn vị xác định mục tiêu, dự kiến kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh theo lộ trình.

Lãnh đạo Agribank chỉ đạo các đơn vị trụ sở chính nghiên cứu, đề xuất bộ chỉ tiêu kế hoạch giao cho các chi nhánh gắn với công tác phát triển khách hàng; các chi nhánh xây dựng, đăng ký cụ thể chỉ tiêu phát triển khách hàng tiền gửi, tiền vay, sử dụng dịch vụ quý II/2025, cả năm 2025 và thời gian tiếp theo với tinh thần quyết tâm cao nhất, góp phần vào kết quả chung của toàn hệ thống…

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng được Chính phủ xác định là năm tăng tốc, bứt phá, về đích, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 theo Nghị quyết của Quốc hội, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong hành trình 37 năm (26/3/1988 - 26/3/2025) xây dựng, lớn mạnh và phát triển bền vững cùng đất nước, Agribank đã và đang có những bước tiến trong đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong nghiên cứu, phát triển sản phẩm và quản trị điều hành, tiếp tục khẳng định sứ mệnh tiên phong của doanh nghiệp đóng vai trò chủ lực của nền kinh tế, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Trước yêu cầu chuyển đổi số mọi mặt hoạt động kinh tế xã hội, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; hiện thực hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đề ra tại Kế hoạch 77-KH/ĐU ngày 28/2/2025 của Đảng ủy Agribank, tại hội nghị, Agribank đã công bố và phát động Chương trình hành động đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2025 tại Agribank.

Chương trình hành động được đề ra theo tiêu chí “5 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ hiệu quả nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa khoa học, công nghệ, đưa chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển chủ đạo của ngân hàng. Một “cuộc cách mạng số” được toàn thể lãnh đạo, cán bộ, người lao động Agribank cùng quyết tâm triển khai, nhằm giúp ngân hàng đi nhanh hơn, đi xa hơn cùng khách hàng của mình.

Bước vào kỷ nguyên mới, Agribank đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đòi hỏi rất cao sự nỗ lực, đột phá chiến lược về đổi mới sáng tạo của toàn hệ thống để đóng góp vào sự tăng tốc, bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới. Phát huy truyền thống tự hào của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam, với những nền tảng vững chắc đã được tạo lập trong hơn 1/3 thế kỷ qua, với một tinh thần đổi mới và phát huy trí tuệ của tập thể, Agribank đang tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ để sẵn sàng hòa cùng kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Không để gián đoạn hoạt động giao dịch của khách hàng

Thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW, Agribank đã triển khai các giải pháp phù hợp với tiến độ sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đảm bảo duy trì ổn định hoạt động kinh doanh, không để ảnh hưởng, gián đoạn hoạt động giao dịch, thanh toán của khách hàng.

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80