Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu thận trọng năm 2025, kỳ vọng lợi nhuận tăng 5%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trước những thách thức của thị trường, Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu kinh doanh thận trọng trong năm 2025, với doanh thu bảo hiểm gốc tương đương cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế 306 tỷ đồng, tăng 5% và duy trì cổ tức 12% tiền mặt.
aa
Bảo hiểm MIC đặt mục tiêu bứt phá lợi nhuận, hướng tới tiến sâu vào Top 3 toàn ngành Thị trường bảo hiểm nhìn từ sự nhập cuộc của "người chơi mới" Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO - Mã ck: PGI) vừa thông qua các nội dung liên quan đến việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 dự kiến tổ chức ngày 18/4 tới đây.

Thị trường đối mặt nhiều thách thức

Tại đại hội, PJICO dự kiến thông qua các tờ trình về báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024 và mục tiêu kinh doanh năm 2025, tờ trình phân phối lợi nhuận năm 2024, miễn nhiệm 1 thành viên hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2024-2029 và bầu bổ sung 1 ứng viên thay thế…

Theo lãnh đạo PJICO, năm 2025, nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức cùng khó khăn hiện tại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ do sự cạnh tranh chưa hạ nhiệt từ một số doanh nghiệp bảo hiểm với mục tiêu chiếm lĩnh thị phần để nâng và giữ hạng: DBV (trước là VNI), BSH, BIC, MIC...

Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu thận trọng năm 2025, kỳ vọng lợi nhuận tăng 5%
Nguồn: PJICO.

PJICO đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 5%, duy trì cổ tức 12%

Trên cơ sở những phân tích đánh giá cụ thể và bám sát định hướng kế hoạch kinh doanh năm 2025, PJICO đặt mục tiêu đạt doanh thu bảo hiểm gốc: 4.400 tỷ đồng, tương đương số thực hiện năm 2024; doanh thu nhận tái bảo hiểm: 214 tỷ đồng; doanh thu hoạt động đầu tư tài chính: 220 tỷ đồng; doanh thu hoạt động cho thuê nhà, văn phòng: 15 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế 2025 là 306 tỷ đồng, tăng trưởng 5% so với năm 2024. PJICO tiếp tục duy trì chia cổ tức với tỷ lệ 12% bằng tiền.

Cùng với đó, rủi ro pháp lý chưa được giải quyết dứt điểm, rủi ro thiên tai tiếp tục gia tăng và khó lường.

Sự phát triển nhanh chưa từng có tiền lệ của công nghệ mới điều này cũng đặt ra những thách thức không nhỏ trong phương án triển khai kinh doanh, đồng thời chi phí về công nghệ thông tin có xu hướng tăng cao.

Ngoài ra, lãi suất tiền gửi ngân hàng bình quân năm 2025 thấp, ở mức 4,6 - 5%.

Theo đánh giá của PJICO, năm 2025, bảo hiểm xe cơ giới vẫn là nghiệp vụ xương sống, chiếm tỷ trọng cao nhưng gặp rất nhiều khó khăn do lực cầu thị trường yếu, cạnh tranh về chi phí.

Với định hướng tiết giảm chi phí cho nghiệp vụ này lên tới 5%/doanh thu thì dự kiến mức doanh thu nghiệp vụ này năm 2025 sẽ không tăng trưởng so với năm 2024.

Cùng với đó, doanh thu bảo hiểm gốc bảo hiểm hàng hải năm 2024 tăng trưởng 5,5% so với năm 2023. Nếu không có sự biến động doanh thu của khách hàng lớn là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, dự kiến doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải năm 2025 tương đương năm 2024

Về bảo hiểm hàng không, năm 2025 tổng công ty không tham gia bảo hiểm cho dự án đội tàu bay của Vietnam Airlines nên dự kiến doanh thu bảo hiểm gốc năm 2025 giảm khoảng 26% so với năm 2024.

Chạm đỉnh lợi nhuận từ kinh doanh bảo hiểm và tài chính

Đối với lĩnh vực bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, năm 2024 được đánh giá là năm đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do các vấn đề rủi ro pháp lý vẫn chưa được giải quyết triệt để ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm. Thiên tai diễn biến khó lường, cơn bão số 3 - Yagi gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, đặc biệt là ảnh hưởng tới các công ty bảo hiểm phi nhân thọ.

Dù vậy, năm đầu tiên tổng công ty thay đổi bộ nhận diện thương hiệu mới cũng ghi nhận nhiều dấu ấn tích cực. Theo báo cáo của Tổng Giám đốc, năm 2024, PJICO vượt lên vị trí thứ 6 thị trường, chiếm 5,5% thị phần về quy mô doanh thu bảo hiểm gốc sau Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC) và trước Bảo hiểm VietinBank (VBI).

Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu thận trọng năm 2025, kỳ vọng lợi nhuận tăng 5%
Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu thận trọng năm 2025, kỳ vọng lợi nhuận tăng 5%. Ảnh tư liệu.

Việc cải thiện nhờ PJICO đạt tổng doanh thu 5.279 tỷ đồng - lần đầu tiên tổng doanh thu vượt mốc 5.000 tỷ, tăng trưởng 8,9% và đạt 110,7% kế hoạch hội đồng quản trị giao. Doanh thu bảo hiểm gốc đạt 4.396,5 tỷ đồng, tăng trưởng 9,3% và đạt 109,3% kế hoạch hội đồng quản trị giao. Lợi nhuận trước thuế là 291,2 tỷ, hoàn thành 100,8% kế hoạch, tăng trưởng 2,6% so với 2023.

Phân theo nghiệp vụ, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là nghiệp vụ xương sống và có độ phủ 100% các đơn vị thành viên, chiếm tỷ trọng 37,3% doanh thu bảo hiểm gốc, hoàn thành 104,7% kế hoạch năm, tăng trưởng 6,5% so với cùng kỳ năm 2023.

Nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ, tài sản, hỗn hợp chiếm tỷ trọng 25,5% doanh thu bảo hiểm gốc và có độ phủ 100% các đơn vị thành viên, với doanh thu đạt 1.122 tỷ đồng, hoàn thành 109,9% kế hoạch, tăng trưởng 8% so với cùng kỳ năm 2023.

Tuy nhiên, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng mạnh 15,7% nên lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của PJICO chỉ nhỉnh hơn cùng kỳ 2,6% chỉ đạt 291,2 tỷ đồng và thấp hơn đáng kể so với mức lãi kỷ lục 436,7 tỷ đồng năm 2021.

Báo cáo tài chính kiểm toán của tổng công ty cho thấy, doanh thu thuần cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm năm 2024 đạt 3.418,4 tỷ đồng, tăng 6% cùng kỳ. Tổng chi trực tiếp hoạt động kinh doanh bảo hiểm 2.602,7 tỷ đồng, tăng 4,3% cùng kỳ.

Lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 815.7 tỷ đồng, tăng 11,6% cùng kỳ, tương ứng tăng 85 tỷ đồng và vượt con số 800,5 tỷ đồng từng đạt được năm 2020. Do đó, năm 2024 đánh dấu năm PJICO đạt lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm cao nhất trong nhiều năm hoạt động.

Cùng với đó, lợi nhuận hoạt động tài chính đạt 111,7 tỷ đồng, tăng 12% cùng kỳ, cũng ở mức đỉnh cao của PJICO.

Các chỉ số đánh giá hiệu quả sinh lời cũng giảm nhẹ so với cùng kỳ. Theo đó, ROS (tỷ suất lợi nhuận sau thuế/doanh thu thuần) năm 2024 đạt 6,47%, thấp hơn 2023 (6,67%); ROE (tỷ suất lợi nhuận sau thuế /vốn chủ sở hữu) và ROA (tỷ suất lợi nhuận sau thuế /tổng tài sản) năm 2024 đạt 12,18% và 2,76%, cũng thấp hơn 2023 lần lượt là 12,29% và 3,08%.

Tại đại hội, Hội đồng quản trị PJICO cũng trình Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm chức vụ 01 thành viên Hội đồng quản trị là ông Lee Jae Hoon và đề cử ông Choi Sung Jin theo ý kiến của cổ đông ngoại Samsung Fire & Marine Insurance Co./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80