Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu thận trọng năm 2025, kỳ vọng lợi nhuận tăng 5%

(TBTCO) - Trước những thách thức của thị trường, Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu kinh doanh thận trọng trong năm 2025, với doanh thu bảo hiểm gốc tương đương cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế 306 tỷ đồng, tăng 5% và duy trì cổ tức 12% tiền mặt.
aa
Bảo hiểm MIC đặt mục tiêu bứt phá lợi nhuận, hướng tới tiến sâu vào Top 3 toàn ngành Thị trường bảo hiểm nhìn từ sự nhập cuộc của "người chơi mới" Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO - Mã ck: PGI) vừa thông qua các nội dung liên quan đến việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 dự kiến tổ chức ngày 18/4 tới đây.

Thị trường đối mặt nhiều thách thức

Tại đại hội, PJICO dự kiến thông qua các tờ trình về báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024 và mục tiêu kinh doanh năm 2025, tờ trình phân phối lợi nhuận năm 2024, miễn nhiệm 1 thành viên hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2024-2029 và bầu bổ sung 1 ứng viên thay thế…

Theo lãnh đạo PJICO, năm 2025, nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức cùng khó khăn hiện tại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ do sự cạnh tranh chưa hạ nhiệt từ một số doanh nghiệp bảo hiểm với mục tiêu chiếm lĩnh thị phần để nâng và giữ hạng: DBV (trước là VNI), BSH, BIC, MIC...

Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu thận trọng năm 2025, kỳ vọng lợi nhuận tăng 5%
Nguồn: PJICO.

PJICO đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 5%, duy trì cổ tức 12%

Trên cơ sở những phân tích đánh giá cụ thể và bám sát định hướng kế hoạch kinh doanh năm 2025, PJICO đặt mục tiêu đạt doanh thu bảo hiểm gốc: 4.400 tỷ đồng, tương đương số thực hiện năm 2024; doanh thu nhận tái bảo hiểm: 214 tỷ đồng; doanh thu hoạt động đầu tư tài chính: 220 tỷ đồng; doanh thu hoạt động cho thuê nhà, văn phòng: 15 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế 2025 là 306 tỷ đồng, tăng trưởng 5% so với năm 2024. PJICO tiếp tục duy trì chia cổ tức với tỷ lệ 12% bằng tiền.

Cùng với đó, rủi ro pháp lý chưa được giải quyết dứt điểm, rủi ro thiên tai tiếp tục gia tăng và khó lường.

Sự phát triển nhanh chưa từng có tiền lệ của công nghệ mới điều này cũng đặt ra những thách thức không nhỏ trong phương án triển khai kinh doanh, đồng thời chi phí về công nghệ thông tin có xu hướng tăng cao.

Ngoài ra, lãi suất tiền gửi ngân hàng bình quân năm 2025 thấp, ở mức 4,6 - 5%.

Theo đánh giá của PJICO, năm 2025, bảo hiểm xe cơ giới vẫn là nghiệp vụ xương sống, chiếm tỷ trọng cao nhưng gặp rất nhiều khó khăn do lực cầu thị trường yếu, cạnh tranh về chi phí.

Với định hướng tiết giảm chi phí cho nghiệp vụ này lên tới 5%/doanh thu thì dự kiến mức doanh thu nghiệp vụ này năm 2025 sẽ không tăng trưởng so với năm 2024.

Cùng với đó, doanh thu bảo hiểm gốc bảo hiểm hàng hải năm 2024 tăng trưởng 5,5% so với năm 2023. Nếu không có sự biến động doanh thu của khách hàng lớn là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, dự kiến doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải năm 2025 tương đương năm 2024

Về bảo hiểm hàng không, năm 2025 tổng công ty không tham gia bảo hiểm cho dự án đội tàu bay của Vietnam Airlines nên dự kiến doanh thu bảo hiểm gốc năm 2025 giảm khoảng 26% so với năm 2024.

Chạm đỉnh lợi nhuận từ kinh doanh bảo hiểm và tài chính

Đối với lĩnh vực bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, năm 2024 được đánh giá là năm đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do các vấn đề rủi ro pháp lý vẫn chưa được giải quyết triệt để ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm. Thiên tai diễn biến khó lường, cơn bão số 3 - Yagi gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, đặc biệt là ảnh hưởng tới các công ty bảo hiểm phi nhân thọ.

Dù vậy, năm đầu tiên tổng công ty thay đổi bộ nhận diện thương hiệu mới cũng ghi nhận nhiều dấu ấn tích cực. Theo báo cáo của Tổng Giám đốc, năm 2024, PJICO vượt lên vị trí thứ 6 thị trường, chiếm 5,5% thị phần về quy mô doanh thu bảo hiểm gốc sau Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC) và trước Bảo hiểm VietinBank (VBI).

Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu thận trọng năm 2025, kỳ vọng lợi nhuận tăng 5%
Bảo hiểm PJICO đặt mục tiêu thận trọng năm 2025, kỳ vọng lợi nhuận tăng 5%. Ảnh tư liệu.

Việc cải thiện nhờ PJICO đạt tổng doanh thu 5.279 tỷ đồng - lần đầu tiên tổng doanh thu vượt mốc 5.000 tỷ, tăng trưởng 8,9% và đạt 110,7% kế hoạch hội đồng quản trị giao. Doanh thu bảo hiểm gốc đạt 4.396,5 tỷ đồng, tăng trưởng 9,3% và đạt 109,3% kế hoạch hội đồng quản trị giao. Lợi nhuận trước thuế là 291,2 tỷ, hoàn thành 100,8% kế hoạch, tăng trưởng 2,6% so với 2023.

Phân theo nghiệp vụ, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là nghiệp vụ xương sống và có độ phủ 100% các đơn vị thành viên, chiếm tỷ trọng 37,3% doanh thu bảo hiểm gốc, hoàn thành 104,7% kế hoạch năm, tăng trưởng 6,5% so với cùng kỳ năm 2023.

Nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ, tài sản, hỗn hợp chiếm tỷ trọng 25,5% doanh thu bảo hiểm gốc và có độ phủ 100% các đơn vị thành viên, với doanh thu đạt 1.122 tỷ đồng, hoàn thành 109,9% kế hoạch, tăng trưởng 8% so với cùng kỳ năm 2023.

Tuy nhiên, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng mạnh 15,7% nên lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của PJICO chỉ nhỉnh hơn cùng kỳ 2,6% chỉ đạt 291,2 tỷ đồng và thấp hơn đáng kể so với mức lãi kỷ lục 436,7 tỷ đồng năm 2021.

Báo cáo tài chính kiểm toán của tổng công ty cho thấy, doanh thu thuần cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm năm 2024 đạt 3.418,4 tỷ đồng, tăng 6% cùng kỳ. Tổng chi trực tiếp hoạt động kinh doanh bảo hiểm 2.602,7 tỷ đồng, tăng 4,3% cùng kỳ.

Lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 815.7 tỷ đồng, tăng 11,6% cùng kỳ, tương ứng tăng 85 tỷ đồng và vượt con số 800,5 tỷ đồng từng đạt được năm 2020. Do đó, năm 2024 đánh dấu năm PJICO đạt lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm cao nhất trong nhiều năm hoạt động.

Cùng với đó, lợi nhuận hoạt động tài chính đạt 111,7 tỷ đồng, tăng 12% cùng kỳ, cũng ở mức đỉnh cao của PJICO.

Các chỉ số đánh giá hiệu quả sinh lời cũng giảm nhẹ so với cùng kỳ. Theo đó, ROS (tỷ suất lợi nhuận sau thuế/doanh thu thuần) năm 2024 đạt 6,47%, thấp hơn 2023 (6,67%); ROE (tỷ suất lợi nhuận sau thuế /vốn chủ sở hữu) và ROA (tỷ suất lợi nhuận sau thuế /tổng tài sản) năm 2024 đạt 12,18% và 2,76%, cũng thấp hơn 2023 lần lượt là 12,29% và 3,08%.

Tại đại hội, Hội đồng quản trị PJICO cũng trình Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm chức vụ 01 thành viên Hội đồng quản trị là ông Lee Jae Hoon và đề cử ông Choi Sung Jin theo ý kiến của cổ đông ngoại Samsung Fire & Marine Insurance Co./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 ▼100K 14,570 ▼100K
Trang sức 99.99 13,980 ▼100K 14,580 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼10K 14,662 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼10K 14,663 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼10K 1,461 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼10K 1,462 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 ▼10K 1,451 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼990K 143,663 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 ▼750K 108,986 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 ▼680K 98,828 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 ▼61K 8,867 ▼61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 ▼583K 84,752 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 ▲45735K 60,663 ▲54555K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cập nhật: 21/09/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18008 18283 18856
CAD 18027 18302 18918
CHF 30940 31317 31955
CNY 0 3842 3938
EUR 29224 29444 30522
GBP 34003 34393 35325
HKD 0 3184 3387
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14584 15172
SGD 19852 20134 20700
THB 697 760 813
USD (1,2) 25747 0 0
USD (5,10,20) 25786 0 0
USD (50,100) 25814 25828 26194
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,254 29,277 30,663
JPY 160.86 161.15 170.9
GBP 34,157 34,249 35,434
AUD 18,187 18,253 18,945
CAD 18,206 18,264 18,936
CHF 31,179 31,276 32,201
SGD 19,961 20,023 20,810
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 744.24 753.43 806.71
NZD 14,537 14,672 15,108
SEK - 2,598 2,689
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,708 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,963.02 - 6,730.53
TWD 739.18 - 894.99
SAR - 6,805.73 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26190
AUD 18193 18293 19218
CAD 18206 18306 19320
CHF 31196 31226 32808
CNY 3824.5 3849.5 3984.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29407 29437 31159
GBP 34309 34359 36127
HKD 0 3305 0
JPY 161.94 162.44 172.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14699 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,700 25,820 26,210
USD20 25,670 25,820 26,210
USD1 25,650 25,820 26,210
AUD 18,213 18,313 19,453
EUR 29,197 29,297 30,993
CAD 18,170 18,270 19,598
SGD 20,076 20,226 20,809
JPY 162.93 164.43 170.2
GBP 34,203 34,353 35,710
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30