Thị trường tiền tệ tuần 10-14.7:

Giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, vàng thế giới được giải tỏa áp lực

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, thông tin đáng chú ý trên thị trường tiền tệ là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2023. Trên thị trường quốc tế, giá vàng đã có những phiên tăng giá ấn tượng nhờ các thông tin lạm phát hạ nhiệt.
aa

Giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng

Tuần qua ghi nhận thông tin đáng chú ý trên thị trường tiền tệ khi NHNN công bố điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng với mức với mức giao toàn hệ thống khoảng 14%.

NHNN cho biết, việc điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng (TCTD) được NHNN thực hiện trên cơ sở đề nghị của TCTD, tình hình hoạt động, năng lực tài chính, quản trị điều hành và khả năng mở rộng tín dụng lành mạnh của từng TCTD, đảm bảo thanh khoản và an toàn hoạt động của hệ thống TCTD.

Giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, vàng thế giới được giải tỏa áp lực
Tín dụng nửa đầu năm tăng trưởng khá chậm so với cùng kỳ năm ngoái. Ảnh: T.L
Hai gói tín dụng cộng hưởng: Kỳ vọng phá thế “ì ạch” tăng trưởng tín dụng Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, giá vàng thế giới tiếp tục giảm

Trước đó từ đầu năm 2023, căn cứ mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Quốc hội, Chính phủ, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2023 khoảng 14 - 15%, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Tuy nhiên, bối cảnh tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm thấp hơn so với kịch bản đề ra, các nguồn vốn nền kinh tế gặp khó khăn. NHNN cho biết song song với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, công cụ chính sách tiền tệ khác, NHNN điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD nhằm cung ứng thêm vốn tín dụng đáp ứng kịp thời nhu cầu của nền kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát.

Tăng trưởng tín dụng 6 tháng mới đạt chưa đến 5%

Theo NHNN, đến ngày 30/6/2023, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 12,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,73% so với cuối năm 2022.

Trước đó, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cũng cho biết, NHNN rất quan tâm đối với việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân và từ khi đại dịch Covid-19 xảy ra, hệ thống ngân hàng dành nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Đơn cử chính sách giảm lãi, miễn lãi, giảm phí chia sẻ với doanh nghiệp trong giai đoạn vừa qua tổng cộng 60 nghìn tỷ đồng. Đây là số tiền rất lớn từ nguồn lực của các ngân hàng cho thấy hệ thống ngân hàng đồng hành cùng các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhiều giải pháp về lãi suất, tín dụng, cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ được triển khai.

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu

Lãi suất liên ngân hàng đang tiếp tục xu hướng giảm sâu. Hiện lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng chỉ còn 0,21%. Đây là mức lãi suất thấp hơn rất nhiều so với lãi suất điều hành hiện hành của NHNN. Cụ thể, Quyết định 1123/QĐ-NHNN ngày 19/6/2022 quy định lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài 5,0%/năm. Lãi suất thực tế hiện cho thấy ngoài mức lãi suất qua đêm rất thấp, lãi suất các kỳ hạn khách hiện cũng đều giảm thấp, cụ thể kỳ hạn 1 tuần chỉ còn 0,38%, kỳ hạn 2 tuần còn 0,69%, kỳ hạn 1 tháng còn 2,4%...

Ông Tim Leelahaphan - Chuyên gia kinh tế phụ trách Thái Lan và Việt Nam, Standard Chartered dự báo, NHNN hiện đang tập trung nhiều hơn vào hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi áp lực giá cả trong nền kinh tế giảm bớt. Tuy nhiên, chuyên gia này dự báo rằng, những đợt cắt giảm lãi suất tiếp theo của NHNN cũng sẽ không vượt quá 50 điểm cơ bản do những lo ngại về rủi ro lạm phát và bất ổn tài chính vẫn còn.

Giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, vàng thế giới được giải tỏa áp lực
Giá vàng thế giới phục hồi mạnh vào cuối tuần. Ảnh: T.L

Giá vàng bật tăng nhờ giảm áp lực lạm phát

Giá vàng thế giới trong tuần qua đã có những phiên phục hồi mạnh mẽ, đặc biệt, thời điểm ấn tượng nhất rơi vào hôm thứ năm (13/7) khi giá vàng thế giới bật tăng vọt, kéo theo sự bứt phá mạnh mẽ của giá vàng nhẫn trong nước.

Cụ thể riêng trong phiên thứ năm, giá vàng thế giới đã tăng 19 USD mỗi lên mức mức 1.957 USD/ounce trên sàn giao dịch vàng Kitco và không khí lạc quan tiếp tục kéo sang sáng thứ sáu, nhưng bắt đầu có tín hiệu điều chỉnh vào buổi chiều ngày thứ sáu. Đến chiều 14/7, giá vàng giao ngay giao dịch trên sàn Kitco dao động quanh mức khoảng 1.956 USD/ounce.

Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng vẫn giữ nhịp khá bình ổn với mức tăng không lớn trong 2 phiên cuối tuần, nhưng vàng nhẫn cũng đã có một phiên thăng hoa vào hôm thứ năm với mức tăng tới 350 nghìn đồng mỗi lượng. Mặc dù vậy, vàng nhẫn cũng đã có xu hướng điều chỉnh giảm từ trưa ngày 14/7, ghi nhận giá mua bán ở mức 55,85 triệu đồng mỗi lượng mua vào và 56,85 triệu đồng mỗi lượng bán ra.

Giá vàng thế giới có một số thời điểm bùng nổ nhờ thông tin tích cực từ chỉ số chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 6 của Mỹ được công bố chỉ tăng 3% so cùng kỳ năm trước, thấp hơn dự báo trước đó của các chuyên gia. Ngoài ra, CPI cốt lõi (lạm phát cơ bản), không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng biến động, cũng tăng thấp hơn dự báo. Cụ thể, chỉ số này tăng 4,8% so cùng kỳ năm ngoái, và thấp hơn so dự báo 5,0% trước đó.

Sau báo cáo lạm phát, thị trường dự báo khả năng cao Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vẫn tăng lãi suất cơ bản thêm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp diễn ra vào ngày 25 - 26/7. Tuy nhiên, đây sẽ là đợt tăng lãi suất cuối cùng của FED, sau đó họ có thể sẽ tạm dừng và quan sát tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ tới nền kinh tế.

Tiếp tục theo dõi diễn biến chung để điều hành thị trường tiền tệ

NHNN cho biết trong thời gian tới sẽ vẫn tiếp tục bám sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản tạo điều kiện cho các TCTD cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, đồng thời theo dõi, rà soát tình hình tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống những tháng cuối năm để có giải pháp điều hành phù hợp.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/5: Giá vàng thế giới giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 15/5: Giá vàng thế giới giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về quanh ngưỡng 4.661 USD/ounce sáng ngày 15/5, kéo giãn chênh lệch với vàng trong nước lên gần 17 triệu đồng/lượng
Giá vàng hôm nay ngày 14/5: Giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 14/5: Giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt điều chỉnh giảm, với vàng thế giới xuống còn khoảng 4.695 USD/ounce và vàng trong nước lùi về ngưỡng 162 - 165 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Giá vàng hôm nay ngày 12/5: Giá vàng thế giới và trong nước đảo chiều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 12/5: Giá vàng thế giới và trong nước đảo chiều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng hôm nay ngày 12/5 ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng thế giới tăng lên quanh 4.750 USD/ounce, còn giá vàng trong nước giảm mạnh từ 2,1 - 2,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 11/5: Giá vàng thế giới mất mốc 4.700 USD/ounce, trong nước không ngoại lệ

Giá vàng hôm nay ngày 11/5: Giá vàng thế giới mất mốc 4.700 USD/ounce, trong nước không ngoại lệ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 11/5 (theo giờ Việt Nam) lùi về mức 4.697 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục được các doanh nghiệp giữ nguyên giá niêm yết.
Giá vàng hôm nay ngày 10/5: Giá vàng thế giới kỳ vọng vượt mốc 4.900 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/5: Giá vàng thế giới kỳ vọng vượt mốc 4.900 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi mạnh về cuối tuần sau khi lấy lại mốc 4.700 USD/ounce. Nhiều dự báo cho rằng, vàng có thể vượt mốc 4.900 USD/ounce trong tuần tới.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,130 16,380
Kim TT/AVPL 16,130 16,380
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,080 16,380
Nguyên Liệu 99.99 15,030 15,230
Nguyên Liệu 99.9 14,980 15,180
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,800 163,800
Hà Nội - PNJ 160,800 163,800
Đà Nẵng - PNJ 160,800 163,800
Miền Tây - PNJ 160,800 163,800
Tây Nguyên - PNJ 160,800 163,800
Đông Nam Bộ - PNJ 160,800 163,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,130 16,380
Miếng SJC Nghệ An 16,130 16,380
Miếng SJC Thái Bình 16,130 16,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,613 16,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,613 16,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Cập nhật: 19/05/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18321 18597 19172
CAD 18643 18921 19536
CHF 32901 33286 33921
CNY 0 3835 3927
EUR 30036 30309 31334
GBP 34422 34814 35744
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15126 15710
SGD 20051 20334 20856
THB 722 786 839
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,217 30,241 31,527
JPY 161.77 162.06 170.99
GBP 34,633 34,727 35,755
AUD 18,523 18,590 19,196
CAD 18,861 18,922 19,523
CHF 33,212 33,315 34,122
SGD 20,213 20,276 20,969
CNY - 3,808 3,934
HKD 3,307 3,317 3,438
KRW 16.25 16.95 18.35
THB 771.48 781.01 831.98
NZD 15,107 15,247 15,622
SEK - 2,755 2,838
DKK - 4,043 4,165
NOK - 2,794 2,878
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.3 - 6,978.47
TWD 754.84 - 909.85
SAR - 6,921.01 7,253.04
KWD - 83,808 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26387
AUD 18508 18608 19531
CAD 18826 18926 19940
CHF 33146 33176 34759
CNY 3816 3841 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30216 30246 31969
GBP 34718 34768 36521
HKD 0 3355 0
JPY 162.31 162.81 173.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15237 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20210 20340 21071
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,188 26,238 26,387
USD20 26,188 26,238 26,387
USD1 26,188 26,238 26,387
AUD 18,530 18,630 19,735
EUR 30,365 30,365 31,774
CAD 18,775 18,875 20,183
SGD 20,289 20,439 20,998
JPY 162.86 164.36 168.93
GBP 34,577 34,927 35,789
XAU 16,048,000 0 16,352,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80