Thị trường tiền tệ tuần 26-30/6:

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, giá vàng thế giới tiếp tục giảm

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng trong tuần qua ghi nhận diễn biến giảm sâu, kỳ hạn qua đêm chỉ còn 0,69%. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục chịu sức ép lớn từ quan điểm thắt chặt tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn, tuy nhiên giá vàng miếng trong nước ít bị tác động bởi xu hướng giảm của vàng thế giới.
aa

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu

Tuần qua tiếp tục ghi nhận diễn biến giảm sâu của lãi suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Theo đó, lãi suất cho vay qua đêm trong tuần có lúc đã giảm xuống chỉ còn 0,69%. Các mức lãi suất khác cũng giảm rất thấp, như kỳ hạn 1 tuần chỉ còn 1,19%, kỳ hạn 2 tuần chỉ còn 1,53%, kỳ hạn 1 tháng chỉ còn 3,43%...

Lãi suất điều hành liên quan đến thị trường tiền tệ liên ngân hàng hiện thực hiện theo Quyết định số 1123/QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với tổ chức tín dụng (TCTD). Theo đó, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với TCTD hiện ở mức 5%/năm. Lãi suất tái cấp vốn trong văn bản này quy định ở mức 4,5%/năm; lãi suất tái chiết khấu là 3,0%/năm.

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, giá vàng thế giới tiếp tục giảm
Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu là tín hiệu cho thấy thanh khoản trong hệ thống ngân hàng đang dồi dào. Ảnh: T.L
Lãi suất huy động trái phiếu chính phủ giảm tháng thứ 3 liên tiếp Lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm trong tháng 6

Nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro tài chính

Vấn về tăng cường năng lực phòng, chống rủi ro trong hoạt động của các TCTD tiếp tục là mối quan tâm của các nhà quản lý. Trong đó, tuần qua đã buổi tọa đàm giữa Ủy ban Chính sách thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) và Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) về chủ đề “Rủi ro tội phạm tài chính/ rửa tiền mà các TCTD đối mặt và chia sẻ giải pháp, kinh nghiệm triển khai”.

NHNN sẽ có kế hoạch triền khai công tác phòng chống rửa tiền

Vừa qua, lãnh đạo NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng phải nghiên cứu giải pháp sớm phát hiện dấu hiệu giao dịch nghi ngờ, gian lận để xử lý; tăng cường thực hiện qua eKYC, phối hợp với Bộ Công an và lưu ý dấu hiệu gian lận...

Trong thời gian tới, NHNN sẽ ban hành kế hoạch triển khai công tác phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và sẽ xử lý nghiêm ngân hàng nào thực hiện báo cáo về vấn đề này không nghiêm túc. Các TCTD cần đẩy mạnh hơn nữa các giải pháp phòng chống rửa tiền trong bối cảnh phải thích ứng với sự thay đổi liên tục của các điều kiện kinh tế vĩ mô.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký VNBA cho biết, các sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng với tốc độ số hóa nhanh và mạnh mẽ đã góp phần thúc đẩy, thu hút số lượng người dùng chuyển từ ngoại tuyến lên trực tuyến, sử dụng nhiều phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, các tội phạm nguồn của rửa tiền cũng có sự biến chuyển, trở nên tinh vi và phức tạp hơn.

Một số chuyên gia tham luận cho rằng, cần thực hiện nghiêm công tác nhận biết thông tin khách hàng; thẩm định kỹ rủi ro của các sản phẩm, dịch vụ sử dụng công nghệ mới trước khi triển khai chính thức; thực hiện theo dõi, sàng lọc, rà soát các tài khoản. Các ngân hàng cũng cần thực hiện làm sạch dữ liệu khách hàng và tài khoản của khách hàng; chủ động nghiên cứu, trang bị các giải pháp, ứng dụng công nghệ, dữ liệu hỗ trợ xác thực thông tin khách hàng, chủ tài khoản ngân hàng…

Giá vàng thế giới giảm, nhưng trong nước vẫn vững giá

Tuần qua chứng kiến sự sụt giảm của giá vàng thế giới trước những thái độ về chính sách tiền tệ của nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới vẫn theo chiều tăng tăng mạnh lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát.

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, giá vàng thế giới tiếp tục giảm
Giá vàng thế giới chịu nhiều sức ép từ chính sách tiền tệ của các nước. Ảnh: T.L

Đến chiều ngày 30/6, giá vàng giao ngay ghi nhận trên sàn Kitco giảm về mức rất sâu chỉ còn 1.905 USD/ounce. Theo đó, giá vàng đã tiếp tục giảm thêm sau khi đã giảm mạnh trong tuần trước đó và mặt bằng giá hiện đang cho thấy vàng sắp có khả năng phá vỡ ngưỡng 1.900 USD/ounce.

Hiện tại, vàng đang đối diện với những diễn biến bất lợi từ thái độ cứng rắn về chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn. Trong đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vẫn duy trì lập trường tích cực về việc tăng lãi suất để tránh bị cáo buộc không kiềm chế được áp lực giá cả. Những lo ngại của ECB càng được được nhấn mạnh khi ngày 29/6, Đức báo cáo rằng lạm phát đã tăng nhanh hơn dự kiến và ngay cả khi Tây Ban Nha trở thành nền kinh tế lớn đầu tiên trong Khu vực đồng euro (Eurozone) chứng kiến lạm phát giảm xuống dưới 2% trong gần 2 năm.

Trong khi đó, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) cũng vẫn giữ quan điểm có thể sẽ thực hiện tiếp các đợt tăng lãi suất trong giai đoạn từ nay đến cuối năm và điều này đang gây áp lực lớn lên giá vàng.

Mặc dù giá vàng thế giới chịu sức ép lớn, giá vàng miếng trong nước vẫn giữ giá, có nhiều phiên vàng miếng vẫn tăng giá bất kể diễn biến giảm giá của vàng thế giới. Đến trưa ngày 30/6, giá vàng miếng SJC 9999 niêm yết ở mức giá 66,4 triệu đồng/lượng mua vào và 67 triệu đồng/lượng bán ra.

VAMC sẽ tăng vốn điều lệ lên 10 nghìn tỷ đồng

Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) vừa chia sẻ một số thông tin sau 10 năm hoạt động, trong đó có kế hoạch sẽ tăng vốn lên 10 nghìn tỷ đồng.

Trong thời gian 10 năm hoạt động, VAMC đã mua nợ gần 28.000 khoản nợ với tổng dư nợ gốc nội bảng hơn 412.000 tỷ đồng, xử lý được 79% tổng số dư nợ gốc đã mua bằng trái phiếu đặc biệt.

Hoạt động mua bán nợ theo giá trị thị trường được triển khai từ năm 2017 đến 31/5/2023 ghi nhận 400 khoản nợ mua theo giá thị trường với giá mua là 12.934 tỷ đồng.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,940 ▼20K 14,540 ▼20K
Trang sức 99.99 13,950 ▼20K 14,550 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,428 ▼7K 14,582 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,428 ▼7K 14,583 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲1280K 1,453 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲1280K 1,454 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,398 ▼7K 1,443 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,871 ▼693K 142,871 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,586 ▼525K 108,386 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,484 ▲79588K 98,284 ▲88408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,382 ▼427K 88,182 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,485 ▼408K 84,285 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,529 ▼292K 60,329 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cập nhật: 17/09/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17932 18206 18783
CAD 18055 18330 18948
CHF 30847 31224 31886
CNY 0 3834 3930
EUR 29172 29391 30476
GBP 33985 34375 35309
HKD 0 3185 3387
JPY 159 163 170
KRW 0 18 20
NZD 0 14569 15153
SGD 19823 20105 20682
THB 694 757 810
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26197
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 29,198 29,221 30,608
JPY 161.84 162.13 171.94
GBP 34,135 34,227 35,411
AUD 18,095 18,160 18,849
CAD 18,223 18,281 18,957
CHF 31,066 31,163 32,105
SGD 19,923 19,985 20,768
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.36 18.1 19.7
THB 741.36 750.52 804.08
NZD 14,521 14,656 15,094
SEK - 2,592 2,685
DKK - 3,917 4,055
NOK - 2,708 2,806
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,918.92 - 6,688.92
TWD 735.7 - 891.33
SAR - 6,801.96 7,164.97
KWD - 82,380 87,660
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,244 29,361 30,555
GBP 34,159 34,296 35,321
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,952 31,076 32,013
JPY 162.50 163.15 171.13
AUD 18,099 18,172 18,764
SGD 19,999 20,079 20,667
THB 759 762 799
CAD 18,242 18,315 18,904
NZD 14,615 15,157
KRW 18.02 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26190
AUD 18113 18213 19136
CAD 18235 18335 19349
CHF 31076 31106 32707
CNY 3816.4 3841.4 3976.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29352 29382 31107
GBP 34278 34328 36086
HKD 0 3305 0
JPY 162.99 163.49 174
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14671 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19983 20113 20835
THB 0 723.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 17/09/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30