Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, lãi suất huy động chưa giảm rõ nét, chiều tăng lại nhỉnh hơn, trong khi lãi suất thực tế kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,8 - 9,5%/năm. Không chỉ cạnh tranh lãi suất, các ngân hàng tung nhiều “chiêu” hút tiền gửi, trong bối cảnh áp lực cân đối nguồn vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, khiến lãi suất khó giảm.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026 Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn “nhạy” với lãi suất Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Lãi suất thực tế tới 9,5%/năm, ngân hàng thêm “chiêu” hút tiền gửi

Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, ở kỳ hạn 6 tháng, BacABank thuộc top đầu về lãi suất huy động với 7,05%/năm; top 2 là PGBank với 6,6%/năm; top 3 gồm MBVVCBNeo, cùng ở mức 6,5%/năm.

Đây cũng là kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn, do cân bằng giữa mức sinh lời và khả năng chủ động dòng tiền, trong khi ngân hàng có thể duy trì nguồn vốn ổn định hơn so với các kỳ hạn ngắn.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Ở kỳ hạn dài hơn, từ 12 tháng trở lên, một số ngân hàng cũng khá “chịu chi” khi lãi suất niêm yết tiếp tục vượt 7%/năm. HDBank dẫn đầu với 7,2%/năm, tiếp đến BacABank 7,1%/năm, MBV 7%/năm và VCBNeo 6,9%/năm.

Tuy nhiên, lãi suất huy động niêm yết cao nhất trên 7%/năm mới chỉ là “phần nổi” của mặt bằng lãi suất. Lãi suất thực tế có thể cao hơn tùy quy mô tiền gửi và thỏa thuận giữa ngân hàng với khách hàng. Với kỳ hạn 12 tháng, lãi suất thực tế theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng hiện khoảng 8,8 - 9,5%/năm, cao hơn đáng kể so với biểu niêm yết.

Các ngân hàng còn “chơi lớn” với nhiều hình thức hút tiền gửi. Chẳng hạn, việc gắn ưu đãi lãi suất với hạng hội viên không chỉ giúp VPBank hút các khoản tiền gửi lớn, mà còn mở thêm nguồn thu phí. Với khoản gửi từ 3 tỷ đồng, có thể hưởng lãi suất trên 9%/năm trong “tuần lễ vàng”, song để được áp dụng mức ưu đãi, khách hàng cần nâng hạng hội viên với mức phí từ 550.000 đồng trở lên.

NCB triển khai sản phẩm tiết kiệm từ 2 tỷ đồng, gắn với quay thưởng bất động sản giá trị lớn; đến nay đã có 2 khách hàng trúng căn hộ trị giá 10 tỷ đồng/căn, trong khi các giải tiếp theo gồm 2 căn hộ 10 tỷ đồng và một biệt thự 25 tỷ đồng.

SACOMBANK cũng triển khai chương trình “Tích lũy tài lộc” với tổng giá trị quà tặng hơn 9 tỷ đồng, giải đặc biệt là căn hộ trị giá 2 tỷ đồng.

Lãi suất 8% “thắng” vàng, cổ phiếu, “cuộc đua” hút vốn vẫn nóng

Trong bối cảnh các ngân hàng đẩy mạnh hút tiền gửi bằng cả lãi suất và ưu đãi, ông Đặng Phú - Trưởng phòng phân tích cơ bản Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, với mức lãi suất khoảng 8%/năm, tiền gửi ngân hàng tạm thời “chiến thắng” vàng và cổ phiếu.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

“Sức nóng” của cuộc đua hút tiền gửi phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn, khi huy động nhiều năm chưa theo kịp tín dụng, kéo khoảng cách giữa tín dụng và huy động VND lên khoảng 2 triệu tỷ đồng.

“Lãi suất huy động bật tăng không phải chỉ vì một nguyên nhân đơn lẻ, mà là kết quả của sự cộng hưởng giữa áp lực thanh khoản, chênh lệch tín dụng - huy động kéo dài, yêu cầu an toàn vốn ngày càng chặt và cú hích từ tỷ giá - lạm phát do xung đột Trung Đông”.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân -
Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, khi tín dụng nhiều năm tăng nhanh hơn huy động, các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh huy động vốn để bù đắp khoảng trống nguồn vốn, nhất là trước một chu kỳ cho vay mới.

“Đối với người gửi tiền, mặt bằng lãi suất cao hơn là một cơ hội để tái cấu trúc danh mục tài sản theo hướng an toàn và bền vững hơn” - ông Huân nhấn mạnh.

Tuy nhiên, thay vì chỉ chạy theo lãi suất cao nhất, người gửi tiền nên quan tâm nhiều hơn đến mức độ an toàn của ngân hàng, tính minh bạch và ổn định dài hạn. Trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất gia tăng, những mức lãi suất quá cao bất thường đôi khi đi kèm với rủi ro cao hơn.

Để hỗ trợ thanh khoản và giảm mặt bằng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm tiền qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tăng lượng chào mua và kéo dài kỳ hạn lên tới 91 ngày. Khi nhu cầu thanh khoản tăng cao, nhà điều hành còn bổ sung VND qua nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ - VND, giúp các tổ chức tín dụng có thêm nguồn vốn.

Một số “van” an toàn cũng được nới như: nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% và điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR). Nhờ đó, thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại gần đây đã “dễ thở” hơn, không còn căng thẳng như giai đoạn trước.

Lãi suất huy động khó giảm, chiều tăng lại nhỉnh hơn

Về diễn biến mặt bằng lãi suất huy động, hơn một tháng sau cuộc họp giữa lãnh đạo Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, biểu lãi suất niêm yết tại phần lớn ngân hàng vẫn gần như “án binh bất động”.

Động thái điều chỉnh chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở một số ngân hàng và kỳ hạn, cả ở chiều tăng lẫn giảm, trái ngược với nhịp giảm khá rõ sau cuộc họp hồi tháng 4.

Ở chiều giảm, Hong Leong, VCBNeo, LPBank và SeABank là những ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động tại một số kỳ hạn.

Trái lại, số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động còn nhiều hơn số ngân hàng giảm. Đơn cử, VCBNeo tăng 0,4 điểm phần trăm tại kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng so với đầu tháng 8, cùng lên 6,9%/năm, dù đã giảm 0,1 điểm phần trăm so với ngày 13/8.

Còn UOB tăng 0,3 điểm phần trăm so với đầu tháng 8 tại kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng, cùng lên 6%/năm. So với đầu tháng 8, KienlongBank tăng 0,4 điểm phần trăm kỳ hạn 12 tháng lên 5,9%/năm.

Trong khi đó, LPBank tăng lãi suất 0,2 điểm phần trăm tại kỳ hạn 6 tháng lên 6,4%/năm; tăng 0,3 điểm phần trăm tại kỳ hạn 12 tháng lên 6,6%/năm và tăng 0,2 điểm phần trăm tại kỳ hạn 24 tháng lên 6,8%/năm. VPBank tăng 0,2 điểm phần trăm ở kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng, cùng lên 6%/năm.

Dự báo về xu hướng lãi suất thời gian tới, ông Đặng Phú cho rằng, lãi suất khó quay đầu, nhưng có thể đạt đỉnh do sự chênh lệch kỳ hạn trong cấu trúc nguồn vốn của hệ thống ngân hàng cùng áp lực từ lạm phát và tỷ giá.

“Áp lực vốn dài hạn của các ngân hàng vẫn lớn, khi các dự án cho vay dự án, trung dài hạn có kỳ hạn 5 - 10 năm, nhưng dân chỉ gửi tiết kiệm 1 - 3 tháng tới 1 năm chiếm tỷ trọng chủ yếu. Muốn có vốn dài hạn để đáp ứng nhu cầu vay và đạt các tỷ lệ an toàn, các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất huy động kỳ hạn dài lên 8 - 9%/năm, hoặc cao hơn. Do đó, lãi suất dài hạn sẽ rất khó giảm trong thời gian tới” - chuyên gia VDSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

CPI Mỹ tháng 8 công bố ngày 11/9 được dự báo tác động lớn đến kỳ vọng lãi suất trước cuộc họp FOMC tháng 9. Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất hết năm 2026, khi áp lực lạm phát mang tính tạm thời và dự báo chỉ số DXY trên đà giảm về 95 điểm.
Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 10.787 tỷ đồng qua kênh OMO khi lãi suất qua đêm bật từ quanh 1% lên 6%/năm, quy mô “vay nóng” liên ngân hàng hai kỳ hạn ngắn vượt 2 triệu tỷ đồng. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm đảo chiều sau 16 tuần tăng liên tiếp, USD đồng loạt hạ nhiệt.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲70K 14,560 ▲70K
Trang sức 99.99 13,970 ▲70K 14,570 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▲12K 14,652 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▲12K 14,653 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1275K 146 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1275K 1,461 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▲12K 145 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▲1188K 143,564 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▲900K 108,911 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼79248K 9,876 ▼88068K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲732K 88,609 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▲699K 84,693 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲500K 60,621 ▲500K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cập nhật: 16/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,684 25,724 26,180
USD20 25,654 25,724 26,180
USD1 25,634 25,724 26,180
AUD 18,217 18,317 19,422
EUR 29,347 29,447 31,106
CAD 18,251 18,351 19,655
SGD 20,102 20,252 20,816
JPY 164.48 165.98 171.53
GBP 34,423 34,573 35,630
XAU 14,288,000 0 14,592,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30