Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, lãi suất huy động chưa giảm rõ nét, chiều tăng lại nhỉnh hơn, trong khi lãi suất thực tế kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,8 - 9,5%/năm. Không chỉ cạnh tranh lãi suất, các ngân hàng tung nhiều “chiêu” hút tiền gửi, trong bối cảnh áp lực cân đối nguồn vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, khiến lãi suất khó giảm.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026 Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn “nhạy” với lãi suất Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Lãi suất thực tế tới 9,5%/năm, ngân hàng thêm “chiêu” hút tiền gửi

Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, ở kỳ hạn 6 tháng, BacABank thuộc top đầu về lãi suất huy động với 7,05%/năm; top 2 là PGBank với 6,6%/năm; top 3 gồm MBV và VCBNeo, cùng ở mức 6,5%/năm.

Đây cũng là kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn, do cân bằng giữa mức sinh lời và khả năng chủ động dòng tiền, trong khi ngân hàng có thể duy trì nguồn vốn ổn định hơn so với các kỳ hạn ngắn.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Ở kỳ hạn dài hơn, từ 12 tháng trở lên, một số ngân hàng cũng khá “chịu chi” khi lãi suất niêm yết tiếp tục vượt 7%/năm. HDBank dẫn đầu với 7,2%/năm, tiếp đến BacABank 7,1%/năm, MBV 7%/năm và VCBNeo 6,9%/năm.

Tuy nhiên, lãi suất huy động niêm yết cao nhất trên 7%/năm mới chỉ là “phần nổi” của mặt bằng lãi suất. Lãi suất thực tế có thể cao hơn tùy quy mô tiền gửi và thỏa thuận giữa ngân hàng với khách hàng. Với kỳ hạn 12 tháng, lãi suất thực tế theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng hiện khoảng 8,8 - 9,5%/năm, cao hơn đáng kể so với biểu niêm yết.

Các ngân hàng còn “chơi lớn” với nhiều hình thức hút tiền gửi. Chẳng hạn, việc gắn ưu đãi lãi suất với hạng hội viên không chỉ giúp VPBank hút các khoản tiền gửi lớn, mà còn mở thêm nguồn thu phí. Với khoản gửi từ 3 tỷ đồng, có thể hưởng lãi suất trên 9%/năm trong “tuần lễ vàng”, song để được áp dụng mức ưu đãi, khách hàng cần nâng hạng hội viên với mức phí từ 550.000 đồng trở lên.

NCB triển khai sản phẩm tiết kiệm từ 2 tỷ đồng, gắn với quay thưởng bất động sản giá trị lớn; đến nay đã có 2 khách hàng trúng căn hộ trị giá 10 tỷ đồng/căn, trong khi các giải tiếp theo gồm 2 căn hộ 10 tỷ đồng và một biệt thự 25 tỷ đồng.

SACOMBANK cũng triển khai chương trình “Tích lũy tài lộc” với tổng giá trị quà tặng hơn 9 tỷ đồng, giải đặc biệt là căn hộ trị giá 2 tỷ đồng.

Lãi suất 8% “thắng” vàng, cổ phiếu, “cuộc đua” hút vốn vẫn nóng

Trong bối cảnh các ngân hàng đẩy mạnh hút tiền gửi bằng cả lãi suất và ưu đãi, ông Đặng Phú - Trưởng phòng phân tích cơ bản Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, với mức lãi suất khoảng 8%/năm, tiền gửi ngân hàng tạm thời “chiến thắng” vàng và cổ phiếu.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

“Sức nóng” của cuộc đua hút tiền gửi phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn, khi huy động nhiều năm chưa theo kịp tín dụng, kéo khoảng cách giữa tín dụng và huy động VND lên khoảng 2 triệu tỷ đồng.

“Lãi suất huy động bật tăng không phải chỉ vì một nguyên nhân đơn lẻ, mà là kết quả của sự cộng hưởng giữa áp lực thanh khoản, chênh lệch tín dụng - huy động kéo dài, yêu cầu an toàn vốn ngày càng chặt và cú hích từ tỷ giá - lạm phát do xung đột Trung Đông”.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân -
Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, khi tín dụng nhiều năm tăng nhanh hơn huy động, các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh huy động vốn để bù đắp khoảng trống nguồn vốn, nhất là trước một chu kỳ cho vay mới.

“Đối với người gửi tiền, mặt bằng lãi suất cao hơn là một cơ hội để tái cấu trúc danh mục tài sản theo hướng an toàn và bền vững hơn” - ông Huân nhấn mạnh.

Tuy nhiên, thay vì chỉ chạy theo lãi suất cao nhất, người gửi tiền nên quan tâm nhiều hơn đến mức độ an toàn của ngân hàng, tính minh bạch và ổn định dài hạn. Trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất gia tăng, những mức lãi suất quá cao bất thường đôi khi đi kèm với rủi ro cao hơn.

Để hỗ trợ thanh khoản và giảm mặt bằng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm tiền qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tăng lượng chào mua và kéo dài kỳ hạn lên tới 91 ngày. Khi nhu cầu thanh khoản tăng cao, nhà điều hành còn bổ sung VND qua nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ - VND, giúp các tổ chức tín dụng có thêm nguồn vốn.

Một số “van” an toàn cũng được nới như: nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% và điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR). Nhờ đó, thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại gần đây đã “dễ thở” hơn, không còn căng thẳng như giai đoạn trước.

Lãi suất huy động khó giảm, chiều tăng lại nhỉnh hơn

Về diễn biến mặt bằng lãi suất huy động, hơn một tháng sau cuộc họp giữa lãnh đạo Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, biểu lãi suất niêm yết tại phần lớn ngân hàng vẫn gần như “án binh bất động”.

Động thái điều chỉnh chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở một số ngân hàng và kỳ hạn, cả ở chiều tăng lẫn giảm, trái ngược với nhịp giảm khá rõ sau cuộc họp hồi tháng 4.

Ở chiều giảm, Hong Leong, VCBNeo, LPBank và SeABank là những ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động tại một số kỳ hạn.

Trái lại, số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động còn nhiều hơn số ngân hàng giảm. Đơn cử, VCBNeo tăng 0,4 điểm phần trăm tại kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng so với đầu tháng 8, cùng lên 6,9%/năm, dù đã giảm 0,1 điểm phần trăm so với ngày 13/8.

Còn UOB tăng 0,3 điểm phần trăm so với đầu tháng 8 tại kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng, cùng lên 6%/năm. So với đầu tháng 8, KienlongBank tăng 0,4 điểm phần trăm kỳ hạn 12 tháng lên 5,9%/năm.

Trong khi đó, LPBank tăng lãi suất 0,2 điểm phần trăm tại kỳ hạn 6 tháng lên 6,4%/năm; tăng 0,3 điểm phần trăm tại kỳ hạn 12 tháng lên 6,6%/năm và tăng 0,2 điểm phần trăm tại kỳ hạn 24 tháng lên 6,8%/năm. VPBank tăng 0,2 điểm phần trăm ở kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng, cùng lên 6%/năm.

Dự báo về xu hướng lãi suất thời gian tới, ông Đặng Phú cho rằng, lãi suất khó quay đầu, nhưng có thể đạt đỉnh do sự chênh lệch kỳ hạn trong cấu trúc nguồn vốn của hệ thống ngân hàng cùng áp lực từ lạm phát và tỷ giá.

“Áp lực vốn dài hạn của các ngân hàng vẫn lớn, khi các dự án cho vay dự án, trung dài hạn có kỳ hạn 5 - 10 năm, nhưng dân chỉ gửi tiết kiệm 1 - 3 tháng tới 1 năm chiếm tỷ trọng chủ yếu. Muốn có vốn dài hạn để đáp ứng nhu cầu vay và đạt các tỷ lệ an toàn, các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất huy động kỳ hạn dài lên 8 - 9%/năm, hoặc cao hơn. Do đó, lãi suất dài hạn sẽ rất khó giảm trong thời gian tới” - chuyên gia VDSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

(TBTCO) - Trước áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn và đồng USD mạnh lên, khiến nhiều đồng tiền mất giá 2 - 7%, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ, cân bằng tỷ giá và lãi suất. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 143,800
Hà Nội - PNJ 140,800 143,800
Đà Nẵng - PNJ 140,800 143,800
Miền Tây - PNJ 140,800 143,800
Tây Nguyên - PNJ 140,800 143,800
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 143,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,940 14,340
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,940 14,340
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,940 14,340
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,620 14,220
Trang sức 99.99 13,630 14,230
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 1,428
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 141,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 107,261
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 97,264
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 87,267
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 83,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 59,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17540 17812 18391
CAD 17650 17924 18542
CHF 30484 30860 31505
CNY 0 3832 3928
EUR 28362 28579 29662
GBP 33512 33900 34837
HKD 0 3173 3376
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14787
SGD 19710 19992 20563
THB 687 750 803
USD (1,2) 25670 0 0
USD (5,10,20) 25708 0 0
USD (50,100) 25736 25750 26120
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,725 25,725 26,105
USD(1-2-5) 24,696 - -
USD(10-20) 24,696 - -
EUR 28,426 28,449 29,801
JPY 159.07 159.36 169
GBP 33,690 33,781 34,949
AUD 17,726 17,790 18,471
CAD 17,825 17,882 18,544
CHF 30,743 30,839 31,761
SGD 19,814 19,876 20,665
CNY - 3,797 3,943
HKD 3,235 3,245 3,381
KRW 17.94 18.71 20.36
THB 735.32 744.4 797.09
NZD 14,195 14,327 14,750
SEK - 2,543 2,633
DKK - 3,813 3,948
NOK - 2,657 2,754
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,931.63 - 6,694.63
TWD 732.73 - 887.77
SAR - 6,781.41 7,144.03
KWD - 81,832 87,080
AED - 6,800 7,328
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,426 28,569 29,793
GBP 33,643 33,812 34,842
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,648 30,802 31,750
JPY 158.85 160.45 168.43
AUD 17,719 17,844 18,441
SGD 19,779 19,959 20,553
THB 741 756 793
CAD 17,814 17,904 18,499
NZD 14,290 14,845
KRW 18.72 20.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25720 25750 26110
AUD 17721 17821 18751
CAD 17826 17926 18940
CHF 30714 30744 32332
CNY 3814.1 3839.1 3974.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28545 28575 30298
GBP 33816 33866 35624
HKD 0 3315 0
JPY 160 160.5 171.02
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14316 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19867 19997 20720
THB 0 716 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Cập nhật: 13/10/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30