Không đặt mục tiêu giảm lãi suất cho vay trung bình bằng ASEAN-4

Dương An
Góp ý cho Dự thảo Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025, Ngân hàng Nhà nước có nhiều ý kiến cụ thể, chi tiết, trong đó có các nội dung liên quan đến mục tiêu giảm lãi suất cho vay, áp dụng các công cụ thị trường hơn trong điều hành chính sách tiền tệ…
aa

nn

Ảnh T.L

Không neo mục tiêu lãi suất vào ASEAN-4

Tại tờ trình về dự thảo Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 trình Thủ tướng Chính phủ mới đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, dự thảo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ 18 bộ, ngành và 41 địa phương. Về cơ bản, các bộ, ngành, địa phương nhất trí với các nội dung của dự thảo Kế hoạch. Một số bộ, ngành, địa phương đã có ý kiến góp ý, chỉnh sửa. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có khá nhiều các ý kiến đóng góp, chỉnh sửa chi tiết, cập nhật vào nội dung của Đề án.

Một trong số đó là, ở phần mục tiêu, NHNN đề nghị bỏ mục tiêu "giảm lãi suất cho vay trung bình bằng mức so với các nước ASEAN-4". Bởi theo NHNN, đánh giá tại Đề án cho thấy lãi suất cho vay của Việt Nam năm 2020 đã tương đương với các nước trong khu vực có điều kiện tương đồng. Ngoài ra, diễn biến lãi suất của 1 quốc gia tăng/giảm còn phụ thuộc lớn vào diễn biến kinh tế vĩ mô, cấu trúc nền kinh tế, năng lực cạnh tranh nội tại của từng quốc gia, trong khi đó diễn biến kinh tế vĩ mô, cấu trúc kinh tế của Việt Nam có nhiều điểm khác biệt khá lớn so với ASEAN-4 như cấu trúc thị trường tài chính và mức độ phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, độ mở cửa của dòng vốn, năng lực cạnh tranh và trình độ quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức rủi ro trong cho vay, kỳ vọng lạm phát của nền kinh tế...

Về lý thuyết kinh tế học thuần tuý đã khẳng định chênh lệch lãi suất giữa 2 quốc gia được thể hiện bởi chính sự biến động của tỷ giá của đồng tiền của 2 quốc gia đó, vì vậy, nếu đặt "giảm lãi suất cho vay trung bình bằng mức so với các nước ASEAN-4" thì đồng nghĩa với việc cố định tỷ giá VND với đồng tiền của ASEAN-4, "điều này là hoàn toàn phi thực tế trong bối cảnh độ mở của nền kinh tế Việt Nam là rất lớn", NHNN cho biết.

Do đó, NHNN cho rằng định hướng "giảm lãi suất cho vay trung bình bằng mức so với các nước ASEAN-4" là trái với các nguyên lý cơ bản của kinh tế thị trường, không phù hợp với tính chất điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường và tương quan cấu trúc kinh tế giữa Việt Nam với các nước ASEAN-4.

Nhất trí với lý giải của NHNN, song Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết mục tiêu của Kế hoạch là hướng đến thay đổi cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam, do đó Bộ đã chỉnh sửa mục tiêu này cho phù hợp và linh hoạt hơn, không neo vào ASEAN-4.

Chưa nghiên cứu áp dụng các công cụ thị trường trong điều hành chính sách tiền tệ

Ở phần nhiệm vụ trong Kế hoạch, một trong nhiều góp ý của NHNN là đề nghị bỏ nhiệm vụ của NHNN về "Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Báo cáo nghiên cứu các điều kiện áp dụng các công cụ thị trường hơn trong điều hành chính sách tiền tệ (dỡ bỏ các biện pháp hạn mức tín dụng, lãi suất trần, tỷ giá, v.v.)". Đồng thời, bỏ nội dung "Báo cáo nghiên cứu các điều kiện áp dụng các công cụ thị trường hơn trong điều hành chính sách tiền tệ (dỡ bỏ các biện pháp hạn mức tín dụng, lãi suất trần, tỷ giá, v.v.)".

Nhiều lý do được NHNN đưa ra giải thích cho đề nghị này. Thứ nhất, theo NHNN, việc tự do hoá các biện pháp quản lý đòi hỏi nền kinh tế và tất cả các phân đoạn thị trường phải được tái cấu trúc hiệu quả, vận hành nội bộ, hoàn toàn theo các qui luật, cơ chế thị trường và không có sự can thiệp của Nhà nước (ngoại trừ một số lĩnh vực đặc biệt cần vai trò cung cấp hàng hoá công cộng của Nhà nước).

Nếu không đảm bảo được điều kiện này thì việc đưa ra các yêu cầu đặc thù nêu trên là thiếu đồng bộ nên có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của thực thi, thiếu tính đồng bộ hoá và có thể không đảm bảo được khả năng kiểm soát của Nhà nước (NHNN) trong một số lĩnh vực đặc thù.

NHNN cũng nhấn mạnh việc điều hành, đổi mới các công cụ chính sách tiền tệ là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục theo chức năng nhiệm vụ được giao của NHNN; trên cơ sở bám sát điều kiện diễn biến của thị trường quốc tế và trong nước, NHNN chủ động, linh hoạt sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ đề ra trong từng thời kỳ...

Để các ngân hàng trung ương thực hiện được nhiệm vụ quan trọng là kiểm soát lạm phát, NHNN nêu rõ xu thế phát triển trên thế giới là ngân hàng trung ương ngày càng độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ. Chính vì vậy, Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã đưa ra định hướng nâng cao dần mức độ độc lập của NHNN.

Do đó, để phù hợp với mục tiêu tổng quát về tái cấu trúc kinh tế, nâng cao năng lực hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế, phù hợp với Quyết định 986/QĐ-TTg, NHNN cho rằng việc không quy định nội dung này tạo điều kiện để NHNN nâng cao tính độc lập, chủ động, linh hoạt về hệ điều hành chính sách tiền tệ như xu thế phát triển chung trên thế giới.

Góp ý này đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp thu./.

Dương An

Dương An

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

(TBTCO) - Theo Thông tư số 53/2026/TT-NHNN về quản lý rủi ro khi ứng dụng AI ngành ngân hàng, hệ thống AI tự động thanh toán trên 10 triệu đồng/giao dịch với khách hàng cá nhân, trên 50 triệu đồng với tổ chức, hoặc tự động quyết định cấp tín dụng từ 50 triệu đồng trở lên được xếp vào nhóm rủi ro cao. Các đơn vị phải thiết lập công cụ giám sát liên tục.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Sau MB, VPBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có vốn điều lệ từ 100.000 tỷ đồng, sau khi hoàn tất phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức, nâng vốn thêm hơn 20.660 tỷ đồng. Việc liên tiếp xuất hiện các nhà băng có vốn điều lệ vượt ngưỡng 100.000 tỷ đồng cho thấy "làn sóng" tăng vốn đang diễn ra mạnh mẽ.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 144,300
Hà Nội - PNJ 141,300 144,300
Đà Nẵng - PNJ 141,300 144,300
Miền Tây - PNJ 141,300 144,300
Tây Nguyên - PNJ 141,300 144,300
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 144,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 14,480
Miếng SJC Nghệ An 14,180 14,480
Miếng SJC Thái Bình 14,180 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 14,430
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 14,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 14,483
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 1,444
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 1,433
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 141,881
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 107,636
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 97,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 87,572
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 83,702
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 59,912
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cập nhật: 10/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17787 18369
CAD 17643 17917 18540
CHF 30492 30868 31516
CNY 0 3824 3921
EUR 28373 28590 29678
GBP 33421 33809 34748
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14793
SGD 19667 19949 20532
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25680 26080
AUD 17705 17805 18730
CAD 17830 17930 18944
CHF 30737 30767 32345
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28564 28594 30317
GBP 33747 33797 35555
HKD 0 3315 0
JPY 159.95 160.45 170.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14318 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19836 19966 20687
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Cập nhật: 10/10/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30