Kỳ vọng sự chuyển biến tích cực của thị trường bảo hiểm năm 2024

Thái Duy
(TBTCO) - Năm 2023 mặc dù còn gặp nhiều thách thức, nhưng thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ở nhiều chỉ tiêu, trong đó điểm nhấn là công tác hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường. Cùng với các yếu tố nền tảng vĩ mô, tiềm năng, lợi thế của Việt Nam, thì định hướng chiến lược và khung khổ pháp lý mới tạo kỳ vọng lớn để thị trường bảo hiểm Việt Nam tạo được “cú huých” về quy mô, chất lượng phát triển trong năm 2024 và các năm tiếp theo.
aa
Kỳ vọng sự chuyển biến tích cực của thị trường bảo hiểm năm 2024

Thị trường bảo hiểm 2024 được kỳ vọng sẽ có bước chuyển rõ nét hơn về chất lượng. Ảnh: Duy Dũng.

Thay đổi theo hướng tích cực hơn

Theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tại thời điểm cuối năm 2023, thị trường bảo hiểm hiện có 81 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (trong đó có 31 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ, 19 DNBH nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 29 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm) và 1 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài.

Tính tới cuối năm 2023, tổng tài sản các DNBH ước đạt 913.308 tỷ đồng, tăng 11,12% so với cùng kỳ năm trước. Các DNBH đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 762.580 tỷ đồng, tăng 12,78% so với cùng kỳ năm trước. Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm ước đạt 601.448 tỷ đồng, tăng 14,16% so với cùng kỳ năm trước.

387 thông tin phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng

Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính, đường dây nóng tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân và doanh nghiệp về lĩnh vực bảo hiểm đã hoạt động kể từ ngày 22/2/2023. Tính đến hết tháng 11/2023, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhận được 387 thông tin phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng điện thoại (trong đó: 269 thông tin phản ánh, kiến nghị liên quan đến việc bán bảo hiểm qua tổ chức tín dụng; còn lại là các cuộc gọi hỏi về chính sách hoặc tình hình giải quyết đơn thư); 609 thông tin phản ánh, kiến nghị qua hộp thư điện tử.

Cũng tính tới cuối năm, tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các DNBH ước đạt 190.201 tỷ đồng, tăng 7,09% so với cùng kỳ năm trước. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 227.134 tỷ đồng, giảm 8,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 71.149 tỷ đồng, tăng 2,87% so với cùng kỳ năm trước; lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 155.985 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng trong năm 2023, các DNBH tăng giá trị chi trả quyền lợi bảo hiểm cho khác hàng, ước đạt 86.376 tỷ đồng, tăng 31,14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 23.814 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ ước đạt 62.562 tỷ đồng.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, đại diện lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm chia sẻ, thị trường bảo hiểm Việt Nam vừa có một năm “khó quên” đối với cả cơ quan quản lý, DNBH, cũng như những người làm nghề. Có thể nói, năm 2023 là một năm thị trường bảo hiểm Việt Nam chịu tác động từ cả các yếu tố khách quan lẫn nội tại và thị trường đã phải “vượt thách thức kép”.

“Năm 2023, kinh tế vĩ mô toàn cầu và trong nước vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Những yếu tố không thuận lợi đó đã tác động tới nhiều ngành, lĩnh vực, và bảo hiểm cũng không ngoại lệ. Cùng với đó, chúng ta thấy rõ những vấn đề nội tại của thị trường đã bộc lộ, “lượng” đã tích đủ và đòi hỏi phải thay đổi mạnh mẽ để chuyển đổi về “chất”” - lãnh đạo Cục chia sẻ.

“Áp lực và thách thức là rất lớn, nhưng với các chính sách đúng đắn của Chính phủ về hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế; sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ Tài chính; sự hỗ trợ phối hợp của nhiều bộ, ngành cơ quan, cùng sự quyết tâm, nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, các DNBH; sự đồng hành của nhiều cơ quan thông tấn, báo chí; và đặc biệt là sự cảm thông, chia sẻ của khách hàng… Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã từng bước thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn” - đại diện cơ quan quản lý đánh giá.

Tập trung cho mục tiêu minh bạch, an toàn, hiệu quả

Kỳ vọng sự chuyển biến tích cực của thị trường bảo hiểm năm 2024

Chú trọng hơn nữa công tác phát triển thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm trong năm 2024. Ảnh: Duy Dũng.

Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, trong năm 2024, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục tập trung vào công tác quản lý giám sát với mục tiêu đảm bảo thị trường bảo hiểm minh bạch, an toàn, hiệu quả để phù hợp với điều kiện, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các chuẩn mực quốc tế; đồng thời, đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của mọi lĩnh vực kinh tế và tầng lớp dân cư, góp phần ổn định nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

Theo đó, mặc dù công tác hoàn thiện khung pháp lý mới theo Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi cơ bản đã hoàn thiện, tuy nhiên, trong bối cảnh mới, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục rà soát để trình các cấp có thẩm quyền xem xét đã đảm bảo chính sách pháp lý phải phù hợp với thực tiễn phát triển của thị trường.

Cùng với đó, trong năm 2024, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục chú trọng công tác phát triển thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm. Đồng thời, song song với việc nâng cao hơn nữa chất lượng thi, cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm, yêu cầu các DNBH tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại đại lý bảo hiểm để tăng chất lượng tư vấn và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Cũng trong năm mới, để tăng cường hơn nữa trật tự, kỷ cương, kỷ luật thị trường, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục tăng cường công tác giám sát từ xa, thanh tra và kiểm tra tại chỗ. Theo đó, cục sẽ tăng cường thực hiện đánh giá DNBH theo định kỳ, kịp thời phát hiện sai phạm để báo cáo Bộ Tài chính có phương án xử lý. Đồng thời, cùng với việc triển khai kế hoạch thanh tra các DNBH đã được phê duyệt, cục sẽ triển khai kiểm tra chuyên đề theo kế hoạch được Lãnh đạo Bộ Tài chính phê duyệt. Qua kết quả thanh, kiểm tra, các hành vi vi phạm sẽ được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, cùng với việc tăng cường hợp tác quốc tế, trong năm 2024, công tác tuyên truyền sẽ tiếp tục được Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm chú trọng; đồng thời sẽ đề nghị Hiệp hội Bảo hiểm và các doanh nghiệp chủ động hơn nữa trong công tác thông tin, tuyên truyền.

Kỳ vọng doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng dương trở lại

Theo thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, năm 2024, dự kiến tổng tài sản các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 1.004.421 tỷ đồng, tăng 9,97% so với cùng kỳ năm trước. Các DNBH đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 850.264 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng nguồn vốn chủ sở hữu ước đạt 200.736 tỷ đồng, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm ước đạt 693.127 tỷ đồng, tăng 15,25% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng trong năm 2024, dự kiến tổng doanh thu phí bảo hiểm của các DNBH ước đạt 243.472 tỷ đồng, tăng 7,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 79.687 tỷ đồng (tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước), lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 163.785 tỷ đồng (tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước). Các DNBH chi trả quyền lợi bảo hiểm: ước đạt 110.043 tỷ đồng, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 25.584 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ ước đạt 84.459 tỷ đồng.

Thái Duy

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 28/4: Giá vàng trong nước giảm về ngưỡng 166 - 168,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/4: Giá vàng trong nước giảm về ngưỡng 166 - 168,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 28/4 đồng loạt điều chỉnh giảm lớn từ 300.000 - 400.000 đồng tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng về quanh 166 - 168,5 triệu đồng/lượng.
Hạ lãi suất, ngân hàng "xoay trục" nguồn vốn

Hạ lãi suất, ngân hàng "xoay trục" nguồn vốn

(TBTCO) - “Làn sóng” giảm lãi suất huy động sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước đang lan rộng, với mức giảm sâu nhất tới 1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng. Tuy nhiên, khi áp lực thanh khoản chưa hạ hoàn toàn, các ngân hàng chủ động “xoay trục” chiến lược huy động, linh hoạt giữa các thị trường, để vừa cân đối thanh khoản, vừa tối ưu chi phí vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

(TBTCO) - Sáng ngày 27/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.113 đồng, đi ngang do trùng kỳ nghỉ lễ, trong khi DXY nhích tăng nhẹ lên 98,61 điểm. Đồng USD tăng nhẹ khi đàm phán Mỹ - Iran chưa tiến triển, làm dấy lên lo ngại lạm phát và khiến kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất năm 2026 suy yếu, trong bối cảnh thị trường chờ loạt dữ liệu và quyết sách quan trọng tuần này.
“Trọn Lễ an vui”: Bảo Việt Nhân thọ tri ân khách hàng dịp Lễ giỗ Tổ và 30/4 – 1/5 với 4.400 quà tặng ý nghĩa

“Trọn Lễ an vui”: Bảo Việt Nhân thọ tri ân khách hàng dịp Lễ giỗ Tổ và 30/4 – 1/5 với 4.400 quà tặng ý nghĩa

(TBTCO) - Dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ và 30/4 - 1/5 là thời điểm nhiều gia đình Việt lên kế hoạch nghỉ ngơi, du lịch và đồng thời cân nhắc các giải pháp bảo vệ tài chính, sức khỏe cho tương lai. Việc chuẩn bị vững vàng từ sớm đang trở thành xu hướng giúp các gia đình chủ động hơn trước những biến động trong cuộc sống.
ACB lãi quý I/2026 hơn 5.300 tỷ đồng, dư nợ tín dụng vượt 700 nghìn tỷ đồng

ACB lãi quý I/2026 hơn 5.300 tỷ đồng, dư nợ tín dụng vượt 700 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 5.368 tỷ đồng, tăng 16,8% cùng kỳ và 55% so với quý trước, nhờ cải thiện đồng thời các nguồn thu cốt lõi. Dư nợ tín dụng đạt 711 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%; tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,97%.
Đại hội đồng cổ đông VietABank: Đưa dư nợ tín dụng vượt 100.000 tỷ đồng, dồn lực tăng vốn hơn 55%

Đại hội đồng cổ đông VietABank: Đưa dư nợ tín dụng vượt 100.000 tỷ đồng, dồn lực tăng vốn hơn 55%

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18,2%, cùng tăng trưởng tín dụng 14,5% lên 101.633 tỷ đồng. Ngân hàng đẩy mạnh chuyển đổi số, tái cấu trúc danh mục cho vay nhằm nâng cao hiệu quả. Đồng thời, kế hoạch tăng vốn điều lệ hơn 55% lên 12.688 tỷ đồng được kỳ vọng tạo bệ phóng cho chu kỳ tăng trưởng mới.
VietBank dự kiến lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 2.100 tỷ đồng, niêm yết trên HOSE quý II/2026

VietBank dự kiến lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 2.100 tỷ đồng, niêm yết trên HOSE quý II/2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank, mã ck: VBB) vừa tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026, thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 15.500 tỷ đồng, mục tiêu kinh doanh năm 2026 và các định hướng phát triển dài hạn.
Giá vàng hôm nay ngày 25/4: Giá vàng trong nước điều chỉnh trong vùng 165 - 168,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/4: Giá vàng trong nước điều chỉnh trong vùng 165 - 168,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 25/4 biến động nhẹ, giao dịch phổ biến trong vùng 165 - 168,8 triệu đồng/lượng, với diễn biến phân hóa giữa các thương hiệu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 ▼180K 16,750 ▼130K
Kim TT/AVPL 16,450 ▼180K 16,750 ▼130K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 ▼130K 16,750 ▼130K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▼140K 15,600 ▼140K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▼140K 15,550 ▼140K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 ▼140K 16,600 ▼140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 ▼140K 16,550 ▼140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 ▼140K 16,530 ▼140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,500 ▼1300K 167,500 ▼1300K
Hà Nội - PNJ 164,500 ▼1300K 167,500 ▼1300K
Đà Nẵng - PNJ 164,500 ▼1300K 167,500 ▼1300K
Miền Tây - PNJ 164,500 ▼1300K 167,500 ▼1300K
Tây Nguyên - PNJ 164,500 ▼1300K 167,500 ▼1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,500 ▼1300K 167,500 ▼1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,500 ▼130K 16,800 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 16,500 ▼130K 16,800 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 16,500 ▼130K 16,800 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,400 ▼180K 16,700 ▼180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,400 ▼180K 16,700 ▼180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,400 ▼180K 16,700 ▼180K
NL 99.90 15,330 ▼70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,380 ▼70K
Trang sức 99.9 15,890 ▼180K 16,590 ▼180K
Trang sức 99.99 15,900 ▼180K 16,600 ▼180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 ▼18K 16,752 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 ▼18K 16,753 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 ▼1494K 167 ▼1516K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 ▼1494K 1,671 ▼13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 ▼1476K 1,655 ▼13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 ▼1288K 163,861 ▼1288K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 ▼976K 124,287 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 ▼884K 112,701 ▼884K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 ▼793K 101,115 ▼793K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 ▼758K 96,646 ▼758K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 ▼54786K 6,917 ▼62796K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▼18K 1,675 ▼13K
Cập nhật: 28/04/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18360 18636 19211
CAD 18763 19041 19660
CHF 32721 33106 33753
CNY 0 3813 3905
EUR 30174 30448 31472
GBP 34745 35138 36078
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15203 15784
SGD 20094 20377 20903
THB 726 789 843
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26366
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,146 26,146 26,366
USD(1-2-5) 25,101 - -
USD(10-20) 25,101 - -
EUR 30,393 30,417 31,674
JPY 161.51 161.8 170.54
GBP 35,068 35,163 36,147
AUD 18,606 18,673 19,257
CAD 19,011 19,072 19,653
CHF 33,119 33,222 33,992
SGD 20,284 20,347 21,020
CNY - 3,793 3,914
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.52 17.23 18.63
THB 774.89 784.46 834.71
NZD 15,231 15,372 15,729
SEK - 2,806 2,888
DKK - 4,067 4,185
NOK - 2,790 2,871
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,252.75 - 7,013.73
TWD 756.1 - 910.33
SAR - 6,925.86 7,249.9
KWD - 83,927 88,747
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,146 26,366
EUR 30,296 30,418 31,600
GBP 35,014 35,155 36,165
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,929 33,061 33,996
JPY 161.28 161.93 169.21
AUD 18,585 18,660 19,256
SGD 20,313 20,395 20,979
THB 793 796 831
CAD 18,977 19,053 19,632
NZD 15,323 15,857
KRW 17.13 18.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26366
AUD 18553 18653 19579
CAD 18954 19054 20070
CHF 32984 33014 34592
CNY 3794.1 3819.1 3954.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30374 30404 32127
GBP 35067 35117 36875
HKD 0 3355 0
JPY 161.7 162.2 172.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15312 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20259 20389 21119
THB 0 755.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16500000 16500000 17000000
SBJ 15000000 15000000 17000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,366
USD20 26,176 26,226 26,366
USD1 26,176 26,226 26,366
AUD 18,587 18,687 19,794
EUR 30,488 30,488 31,899
CAD 18,888 18,988 20,296
SGD 20,325 20,475 21,250
JPY 162.09 163.59 168.13
GBP 34,933 35,283 36,142
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/04/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80