Kỳ vọng sự chuyển biến tích cực của thị trường bảo hiểm năm 2024

Thái Duy
(TBTCO) - Năm 2023 mặc dù còn gặp nhiều thách thức, nhưng thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ở nhiều chỉ tiêu, trong đó điểm nhấn là công tác hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường. Cùng với các yếu tố nền tảng vĩ mô, tiềm năng, lợi thế của Việt Nam, thì định hướng chiến lược và khung khổ pháp lý mới tạo kỳ vọng lớn để thị trường bảo hiểm Việt Nam tạo được “cú huých” về quy mô, chất lượng phát triển trong năm 2024 và các năm tiếp theo.
aa
Kỳ vọng sự chuyển biến tích cực của thị trường bảo hiểm năm 2024

Thị trường bảo hiểm 2024 được kỳ vọng sẽ có bước chuyển rõ nét hơn về chất lượng. Ảnh: Duy Dũng.

Thay đổi theo hướng tích cực hơn

Theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tại thời điểm cuối năm 2023, thị trường bảo hiểm hiện có 81 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (trong đó có 31 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ, 19 DNBH nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 29 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm) và 1 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài.

Tính tới cuối năm 2023, tổng tài sản các DNBH ước đạt 913.308 tỷ đồng, tăng 11,12% so với cùng kỳ năm trước. Các DNBH đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 762.580 tỷ đồng, tăng 12,78% so với cùng kỳ năm trước. Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm ước đạt 601.448 tỷ đồng, tăng 14,16% so với cùng kỳ năm trước.

387 thông tin phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng

Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính, đường dây nóng tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân và doanh nghiệp về lĩnh vực bảo hiểm đã hoạt động kể từ ngày 22/2/2023. Tính đến hết tháng 11/2023, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhận được 387 thông tin phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng điện thoại (trong đó: 269 thông tin phản ánh, kiến nghị liên quan đến việc bán bảo hiểm qua tổ chức tín dụng; còn lại là các cuộc gọi hỏi về chính sách hoặc tình hình giải quyết đơn thư); 609 thông tin phản ánh, kiến nghị qua hộp thư điện tử.

Cũng tính tới cuối năm, tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các DNBH ước đạt 190.201 tỷ đồng, tăng 7,09% so với cùng kỳ năm trước. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 227.134 tỷ đồng, giảm 8,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 71.149 tỷ đồng, tăng 2,87% so với cùng kỳ năm trước; lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 155.985 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng trong năm 2023, các DNBH tăng giá trị chi trả quyền lợi bảo hiểm cho khác hàng, ước đạt 86.376 tỷ đồng, tăng 31,14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 23.814 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ ước đạt 62.562 tỷ đồng.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, đại diện lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm chia sẻ, thị trường bảo hiểm Việt Nam vừa có một năm “khó quên” đối với cả cơ quan quản lý, DNBH, cũng như những người làm nghề. Có thể nói, năm 2023 là một năm thị trường bảo hiểm Việt Nam chịu tác động từ cả các yếu tố khách quan lẫn nội tại và thị trường đã phải “vượt thách thức kép”.

“Năm 2023, kinh tế vĩ mô toàn cầu và trong nước vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Những yếu tố không thuận lợi đó đã tác động tới nhiều ngành, lĩnh vực, và bảo hiểm cũng không ngoại lệ. Cùng với đó, chúng ta thấy rõ những vấn đề nội tại của thị trường đã bộc lộ, “lượng” đã tích đủ và đòi hỏi phải thay đổi mạnh mẽ để chuyển đổi về “chất”” - lãnh đạo Cục chia sẻ.

“Áp lực và thách thức là rất lớn, nhưng với các chính sách đúng đắn của Chính phủ về hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế; sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ Tài chính; sự hỗ trợ phối hợp của nhiều bộ, ngành cơ quan, cùng sự quyết tâm, nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, các DNBH; sự đồng hành của nhiều cơ quan thông tấn, báo chí; và đặc biệt là sự cảm thông, chia sẻ của khách hàng… Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã từng bước thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn” - đại diện cơ quan quản lý đánh giá.

Tập trung cho mục tiêu minh bạch, an toàn, hiệu quả

Kỳ vọng sự chuyển biến tích cực của thị trường bảo hiểm năm 2024

Chú trọng hơn nữa công tác phát triển thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm trong năm 2024. Ảnh: Duy Dũng.

Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, trong năm 2024, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục tập trung vào công tác quản lý giám sát với mục tiêu đảm bảo thị trường bảo hiểm minh bạch, an toàn, hiệu quả để phù hợp với điều kiện, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các chuẩn mực quốc tế; đồng thời, đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của mọi lĩnh vực kinh tế và tầng lớp dân cư, góp phần ổn định nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

Theo đó, mặc dù công tác hoàn thiện khung pháp lý mới theo Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi cơ bản đã hoàn thiện, tuy nhiên, trong bối cảnh mới, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục rà soát để trình các cấp có thẩm quyền xem xét đã đảm bảo chính sách pháp lý phải phù hợp với thực tiễn phát triển của thị trường.

Cùng với đó, trong năm 2024, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục chú trọng công tác phát triển thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm. Đồng thời, song song với việc nâng cao hơn nữa chất lượng thi, cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm, yêu cầu các DNBH tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại đại lý bảo hiểm để tăng chất lượng tư vấn và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Cũng trong năm mới, để tăng cường hơn nữa trật tự, kỷ cương, kỷ luật thị trường, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục tăng cường công tác giám sát từ xa, thanh tra và kiểm tra tại chỗ. Theo đó, cục sẽ tăng cường thực hiện đánh giá DNBH theo định kỳ, kịp thời phát hiện sai phạm để báo cáo Bộ Tài chính có phương án xử lý. Đồng thời, cùng với việc triển khai kế hoạch thanh tra các DNBH đã được phê duyệt, cục sẽ triển khai kiểm tra chuyên đề theo kế hoạch được Lãnh đạo Bộ Tài chính phê duyệt. Qua kết quả thanh, kiểm tra, các hành vi vi phạm sẽ được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, cùng với việc tăng cường hợp tác quốc tế, trong năm 2024, công tác tuyên truyền sẽ tiếp tục được Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm chú trọng; đồng thời sẽ đề nghị Hiệp hội Bảo hiểm và các doanh nghiệp chủ động hơn nữa trong công tác thông tin, tuyên truyền.

Kỳ vọng doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng dương trở lại

Theo thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, năm 2024, dự kiến tổng tài sản các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 1.004.421 tỷ đồng, tăng 9,97% so với cùng kỳ năm trước. Các DNBH đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 850.264 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng nguồn vốn chủ sở hữu ước đạt 200.736 tỷ đồng, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm ước đạt 693.127 tỷ đồng, tăng 15,25% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng trong năm 2024, dự kiến tổng doanh thu phí bảo hiểm của các DNBH ước đạt 243.472 tỷ đồng, tăng 7,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 79.687 tỷ đồng (tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước), lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 163.785 tỷ đồng (tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước). Các DNBH chi trả quyền lợi bảo hiểm: ước đạt 110.043 tỷ đồng, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 25.584 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ ước đạt 84.459 tỷ đồng.

Thái Duy

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
Kim TT/AVPL 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
Nguyên Liệu 99.99 13,050 ▼800K 13,250 ▼800K
Nguyên Liệu 99.9 13,000 ▼800K 13,200 ▼800K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▼750K 14,200 ▼750K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▼750K 14,150 ▼750K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▼750K 14,130 ▼750K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
Miếng SJC Nghệ An 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
Miếng SJC Thái Bình 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
NL 99.90 13,050 ▼700K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼700K
Trang sức 99.9 13,840 ▼480K 14,540 ▼480K
Trang sức 99.99 13,850 ▼480K 14,550 ▼480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,437 ▼51K 14,672 ▼460K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,437 ▼51K 14,673 ▼460K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,436 ▼51K 1,466 ▼46K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,436 ▼51K 1,467 ▼46K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▼51K 1,451 ▼46K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼4555K 143,663 ▼4555K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▼3450K 108,986 ▼3450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,328 ▼3128K 98,828 ▼3128K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,917 ▼74059K 8,867 ▼82609K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,252 ▼2682K 84,752 ▼2682K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,163 ▼1918K 60,663 ▼1918K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Cập nhật: 19/06/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17913 18187 18760
CAD 18074 18349 18963
CHF 31962 32344 32983
CNY 0 3847 3940
EUR 29494 29715 30793
GBP 33937 34326 35257
HKD 0 3227 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14783 15374
SGD 19817 20099 20674
THB 716 779 833
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26440
AUD 18094 18194 19117
CAD 18258 18358 19373
CHF 32272 32302 33888
CNY 3829.2 3854.2 3990
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29703 29733 31461
GBP 34240 34290 36050
HKD 0 3355 0
JPY 159.86 160.36 170.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14929 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20009 20139 20867
THB 0 747.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14800000
SBJ 13500000 13500000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,440
USD20 26,156 26,206 26,440
USD1 26,156 26,206 26,440
AUD 18,160 18,260 19,365
EUR 29,859 29,859 31,270
CAD 18,214 18,314 19,623
SGD 20,090 20,240 20,801
JPY 160.32 161.82 166.36
GBP 34,158 34,508 35,615
XAU 14,478,000 0 14,782,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/06/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80