Lãi suất tiến sát đáy, nhiều khả năng nhích tăng nửa cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động tiếp tục giảm trong tháng 5 nhưng với nhịp độ chậm lại. Bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại giảm thêm 16 điểm cơ bản, về mức 4,89%/năm, tiến sát ngưỡng 4,7% mà khối quốc doanh duy trì ổn định suốt thời gian qua. Dư địa giảm lãi suất dần thu hẹp, song không loại trừ khả năng có thể nhích tăng nửa cuối năm.
aa
Lãi suất tiến sát đáy, nhiều khả năng nhích tăng nửa cuối năm
Nguồn: MBS tổng hợp Đồ họa tư liệu

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), lãi suất huy động tiếp tục duy trì đà giảm trong tháng 5, tuy nhiên, số lượng ngân hàng điều chỉnh giảm và biên độ giảm đều thấp hơn đáng kể so với các đợt giảm trong tháng 2 và tháng 3.

Số ít ngân hàng điều chỉnh nhỏ giọt

Thống kê từ MBS cho thấy, trong tháng 5, chỉ có 4 ngân hàng gồm: MB, VPBank, Eximbank và GPBank thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với biên độ từ 0,1 - 0,25%/năm ở nhiều kỳ hạn khác nhau. Ở chiều ngược lại, BacABank tăng lãi suất kỳ hạn từ 1 - 15 tháng thêm 0,2%/năm.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động từ đầu năm đến nay tăng nhẹ khoảng 0,08%, chủ yếu do một số ngân hàng thương mại quy mô nhỏ điều chỉnh tăng. Tuy nhiên, phần lớn các ngân hàng vẫn đang thực hiện giảm lãi suất phù hợp với định hướng điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Áp lực tỷ giá và thuế quan khiến lãi suất khó giảm thêm

"Dư địa để tiếp tục hạ lãi suất huy động và cho vay đang dần thu hẹp. Đồng thời, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trì hoãn kế hoạch hạ lãi suất để đối phó với lạm phát có thể tạo thêm áp lực lên tỷ giá trong thời gian tới". Ông Nguyễn Tùng Anh - chuyên gia FiinRatings nhìn nhận

"Đến cuối tháng 5, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng đã giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm về mức 4,89%, trong khi lãi suất của nhóm các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS nêu rõ.

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, từ đầu tháng 5 đến nay, chỉ có số ít nhà băng điều chỉnh giảm lãi suất, với mức điều chỉnh nhỏ giọt. Đơn cử, tại kỳ hạn 3 tháng, VPBank giảm lãi suất từ 3,8% xuống còn 3,6%. Ở kỳ hạn 6 tháng, Eximbank giảm từ 4,9% xuống còn 4,7%; VPBank cùng chung mức giảm 0,2%, xuống còn 4,5%/năm; GPBank giảm nhẹ 0,1% còn 4,8%/năm, song mới tăng lại mức cũ từ đầu tháng 6.

Ở kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, VPBank và Eximbank tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất thêm 0,2%, lần lượt xuống còn 5%/năm và 4,9%/năm. Tại kỳ hạn 24 tháng, lãi suất huy động của hai ngân hàng này cũng được duy trì ở mức tương ứng 5,2%/năm và 5,4%/năm.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất có thể kể đến như: ở kỳ hạn 1 tháng, GPBank tăng lãi suất từ 3,25% lên 3,45% nhằm hút dòng tiền ngắn hạn. Tương tự, tại kỳ hạn 3 tháng, GPBank nâng lãi suất từ 0,2% lên 3,55%. BacABank cũng tăng lãi suất 1 - 6 tháng 0,4%, lên 3,9 - 5,35%/năm.

Trong khi đó, tại khối quốc doanh, từ tháng 5 đến nay, mặt bằng lãi suất huy động các ngân hàng VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank duy trì hoàn toàn ổn định trên tất cả các kỳ hạn. Chẳng hạn, ở kỳ hạn 1 tháng, VietinBank, Vietcombank và BIDV đều giữ nguyên mức lãi suất 1,6%/năm, trong khi Agribank áp dụng mức cao hơn là 2,1%/năm.

Tại kỳ hạn 6 tháng, lãi suất của VietinBank và BIDV ổn định ở mức 3%/năm, Vietcombank ở mức 2,9%/năm, còn Agribank tiếp tục duy trì mức cao nhất trong nhóm với 3,5%/năm. Đối với kỳ hạn 12 tháng, 3 ngân hàng gồm VietinBank, BIDV và Agribank áp dụng mức lãi suất 4,7%/năm, trong khi Vietcombank niêm yết thấp hơn một chút, ở mức 4,6%/năm.

Việc giữ nguyên mặt bằng lãi suất thời gian qua cho thấy, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn đang đóng vai trò trụ cột trong việc ổn định thị trường tiền tệ, bám sát định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Lãi suất liệu có thể giữ yên đến cuối năm?

Trao đổi với phóng viên, PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ đạo giữ ổn định mặt bằng lãi suất, sẵn sàng chấp nhận hy sinh một phần kiểm soát lạm phát để ưu tiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Với những tín hiệu rõ ràng như vậy, nhiều khả năng mặt bằng lãi suất từ nay đến cuối năm sẽ duy trì xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ. "Nếu có điều chỉnh tăng, mức tăng cũng sẽ rất hạn chế và chỉ diễn ra trong những thời điểm nhất định, khi đó, Chính phủ tiếp tục can thiệp kịp thời để ổn định tình hình" - ông Huân nhìn nhận.

Với mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp, ông Nguyễn Tùng Anh - Giám đốc Khối nghiên cứu Tín dụng và Dịch vụ tài chính bền vững tại FiinRatings nhận định, tăng trưởng tín dụng trong những tháng đầu năm đạt kết quả tích cực nhờ môi trường lãi suất thuận lợi, tạo điều kiện ưu đãi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay. Điều này giúp kênh tín dụng trở thành nguồn vốn hấp dẫn trong bối cảnh hiện tại. Bên cạnh đó, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) nhìn chung vẫn khá dồi dào trong tháng 5, với lãi suất qua đêm dao động từ 3,78% đến 3,92%/năm, trước khi kết thúc tháng ở mức 3,1%.

Dù lãi suất huy động gần đây có xu hướng đi xuống, song theo nhóm phân tích MBS, lãi suất đầu vào có thể tăng dần vào cuối năm, khi nền kinh tế kỳ vọng phục hồi mạnh và tăng trưởng tín dụng được thúc đẩy, có thể đạt hoặc vượt mục tiêu 16%. Bởi tính đến ngày 19/5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 5,59% so với cuối năm 2024 và tăng 18,67% so với cùng kỳ, cho thấy nhu cầu vốn đang hồi phục rõ nét.

"Chúng tôi dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm nay sẽ đạt 17 - 18%, được thúc đẩy bởi sự phục hồi của ngành sản xuất và tiêu dùng nội địa và việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 5,5 - 6% trong năm 2025" - MSB đánh giá.

Gần 9 triệu tỷ đồng đổ về hai “đầu tàu” kinh tế

Tháng 5, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất điều hành, chính sách cho vay tín dụng điều chỉnh linh hoạt theo hướng giảm lãi suất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh tế. Đến ngày 10/5, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,63%/năm, giảm 0,3%/năm so với cuối năm 2024. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) bình quân khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (4%/năm).

Đến ngày 19/5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,49 triệu tỷ đồng, tăng 5,59% so với cuối năm 2024, tăng 18,67% so với cùng kỳ năm 2024. Riêng tại hai “đầu tàu” tăng trưởng của cả nước, dư nợ tín dụng lên tới 8.966 nghìn tỷ đồng, chiếm tới 54,5% toàn ngành, cho thấy vai trò áp đảo của hai trung tâm kinh tế trong việc dẫn dắt tăng trưởng tín dụng cả nước. Trong bối cảnh Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang giữ lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ phục hồi, sức bật tín dụng tại hai “đầu tàu” là tín hiệu tích cực, góp phần đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm.

Thống kê của Chi cục Thống kê TP. Hà Nội cho thấy, ước đến ngày 31/5/2025, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố đạt 4.881 nghìn tỷ đồng, tăng 1,06% so với 30/4/2025 và tăng 8,32% so với 31/12/2024. Còn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố ước tính đến ngày 31/5/2025 tăng 1% so với tháng trước, tăng khoảng 5% so với cuối năm 2024 và tăng mạnh 13,2% so với cùng kỳ, ước đạt 4.085 nghìn tỷ đồng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 24/4 ghi nhận diễn biến ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, mặt bằng giao dịch duy trì quanh vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

(TBTCO) - Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ và tích lũy tài chính ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Chubb - Tự Do An Phát.
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 22/04/2026, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đại hội đã thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kết quả hoạt động năm 2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026, với trọng tâm mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2023 – 2028, tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings (Moody’s) mới đây đã công bố nâng xếp hạng tín nhiệm Ba3, cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (FE CREDIT).
Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phương Đông (mã ck: OCB) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với những chuyển biến tích cực. Không chỉ ghi nhận sự tăng trưởng về quy mô và hiệu quả vận hành, cấu trúc thu nhập cũng cho thấy ngân hàng đang bước vào một chu kỳ phục hồi mang tính nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 23/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức phổ biến 700.000 - 800.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi sâu về vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

(TBTCO) - Sáng ngày 23/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.103 VND/USD, USD tự do ổn định quanh 26.600 - 26.650 đồng, trong khi DXY hiện ở 98,57 điểm, cho thấy tín hiệu phục hồi sau nhịp giảm. Áp lực lạm phát toàn cầu vẫn hiện hữu khi giá năng lượng tăng mạnh tại Mỹ và lan rộng sang các nền kinh tế lớn, khiến kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn tiếp tục được củng cố.
Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

(TBTCO) - TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường tài chính và bất động sản toàn cầu nhấn mạnh, việc sớm thành lập sàn vàng quốc gia giúp minh bạch thị trường, thu hẹp chênh lệch giá vàng về mức hợp lý và khai thông nguồn lực vàng trong dân. Tuy nhiên, lộ trình triển khai vẫn đối mặt nhiều thách thức, trong đó có vấn đề cấp phép nhập khẩu, sản xuất vàng miếng và cân đối nguồn ngoại tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,530 15,730
Nguyên Liệu 99.9 15,480 15,680
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,330 ▲60K 16,730 ▲60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,280 ▲60K 16,680 ▲60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,210 ▲60K 16,660 ▲60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 165,500 ▼500K 168,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
NL 99.90 15,400 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450 ▼50K
Trang sức 99.9 16,060 ▼50K 16,760 ▼50K
Trang sức 99.99 16,070 ▼50K 16,770 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,655 ▲1655K 16,802 ▲16802K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,655 ▲1655K 16,803 ▲16803K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 165 ▲165K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 165 ▲165K 1,676 ▲1676K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 163 ▲163K 166 ▲166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,856 ▲157856K 164,356 ▲164356K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,762 ▲115762K 124,662 ▲124662K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 104,141 ▲104141K 113,041 ▲113041K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,252 ▲9252K 10,142 ▲10142K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,038 ▲88038K 96,938 ▲96938K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,479 ▲60479K 69,379 ▲69379K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Cập nhật: 24/04/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18270 18545 19121
CAD 18717 18995 19613
CHF 32882 33267 33908
CNY 0 3816 3909
EUR 30188 30462 31487
GBP 34729 35122 36054
HKD 0 3233 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15135 15717
SGD 20094 20377 20893
THB 728 791 845
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,326 30,350 31,616
JPY 160.92 161.21 169.94
GBP 34,927 35,022 36,021
AUD 18,473 18,540 19,130
CAD 18,909 18,970 19,555
CHF 33,138 33,241 34,016
SGD 20,235 20,298 20,977
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.39 17.09 18.5
THB 775.36 784.94 836.32
NZD 15,112 15,252 15,610
SEK - 2,804 2,886
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,779 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.5 - 6,984.19
TWD 756.54 - 911.21
SAR - 6,923.57 7,250.83
KWD - 83,846 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26368
AUD 18414 18514 19437
CAD 18870 18970 19986
CHF 33076 33106 34689
CNY 3792.6 3817.6 3952.9
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30317 30347 32069
GBP 34958 35008 36765
HKD 0 3355 0
JPY 161.34 161.84 172.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15214 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20223 20353 21075
THB 0 755.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16620000 16620000 16870000
SBJ 15000000 15000000 16870000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,138 26,368
USD20 26,138 26,138 26,368
USD1 26,138 26,138 26,368
AUD 18,449 18,549 19,658
EUR 30,451 30,451 31,862
CAD 18,807 18,907 20,215
SGD 20,287 20,437 21,080
JPY 161.78 163.28 167.84
GBP 34,839 35,189 36,056
XAU 16,668,000 0 16,922,000
CNY 0 3,702 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/04/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80