Lãi suất tiến sát đáy, nhiều khả năng nhích tăng nửa cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động tiếp tục giảm trong tháng 5 nhưng với nhịp độ chậm lại. Bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại giảm thêm 16 điểm cơ bản, về mức 4,89%/năm, tiến sát ngưỡng 4,7% mà khối quốc doanh duy trì ổn định suốt thời gian qua. Dư địa giảm lãi suất dần thu hẹp, song không loại trừ khả năng có thể nhích tăng nửa cuối năm.
aa
Lãi suất tiến sát đáy, nhiều khả năng nhích tăng nửa cuối năm
Nguồn: MBS tổng hợp Đồ họa tư liệu

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), lãi suất huy động tiếp tục duy trì đà giảm trong tháng 5, tuy nhiên, số lượng ngân hàng điều chỉnh giảm và biên độ giảm đều thấp hơn đáng kể so với các đợt giảm trong tháng 2 và tháng 3.

Số ít ngân hàng điều chỉnh nhỏ giọt

Thống kê từ MBS cho thấy, trong tháng 5, chỉ có 4 ngân hàng gồm: MB, VPBank, Eximbank và GPBank thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với biên độ từ 0,1 - 0,25%/năm ở nhiều kỳ hạn khác nhau. Ở chiều ngược lại, BacABank tăng lãi suất kỳ hạn từ 1 - 15 tháng thêm 0,2%/năm.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động từ đầu năm đến nay tăng nhẹ khoảng 0,08%, chủ yếu do một số ngân hàng thương mại quy mô nhỏ điều chỉnh tăng. Tuy nhiên, phần lớn các ngân hàng vẫn đang thực hiện giảm lãi suất phù hợp với định hướng điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Áp lực tỷ giá và thuế quan khiến lãi suất khó giảm thêm

"Dư địa để tiếp tục hạ lãi suất huy động và cho vay đang dần thu hẹp. Đồng thời, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trì hoãn kế hoạch hạ lãi suất để đối phó với lạm phát có thể tạo thêm áp lực lên tỷ giá trong thời gian tới". Ông Nguyễn Tùng Anh - chuyên gia FiinRatings nhìn nhận

"Đến cuối tháng 5, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng đã giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm về mức 4,89%, trong khi lãi suất của nhóm các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS nêu rõ.

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, từ đầu tháng 5 đến nay, chỉ có số ít nhà băng điều chỉnh giảm lãi suất, với mức điều chỉnh nhỏ giọt. Đơn cử, tại kỳ hạn 3 tháng, VPBank giảm lãi suất từ 3,8% xuống còn 3,6%. Ở kỳ hạn 6 tháng, Eximbank giảm từ 4,9% xuống còn 4,7%; VPBank cùng chung mức giảm 0,2%, xuống còn 4,5%/năm; GPBank giảm nhẹ 0,1% còn 4,8%/năm, song mới tăng lại mức cũ từ đầu tháng 6.

Ở kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, VPBank và Eximbank tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất thêm 0,2%, lần lượt xuống còn 5%/năm và 4,9%/năm. Tại kỳ hạn 24 tháng, lãi suất huy động của hai ngân hàng này cũng được duy trì ở mức tương ứng 5,2%/năm và 5,4%/năm.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất có thể kể đến như: ở kỳ hạn 1 tháng, GPBank tăng lãi suất từ 3,25% lên 3,45% nhằm hút dòng tiền ngắn hạn. Tương tự, tại kỳ hạn 3 tháng, GPBank nâng lãi suất từ 0,2% lên 3,55%. BacABank cũng tăng lãi suất 1 - 6 tháng 0,4%, lên 3,9 - 5,35%/năm.

Trong khi đó, tại khối quốc doanh, từ tháng 5 đến nay, mặt bằng lãi suất huy động các ngân hàng VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank duy trì hoàn toàn ổn định trên tất cả các kỳ hạn. Chẳng hạn, ở kỳ hạn 1 tháng, VietinBank, Vietcombank và BIDV đều giữ nguyên mức lãi suất 1,6%/năm, trong khi Agribank áp dụng mức cao hơn là 2,1%/năm.

Tại kỳ hạn 6 tháng, lãi suất của VietinBank và BIDV ổn định ở mức 3%/năm, Vietcombank ở mức 2,9%/năm, còn Agribank tiếp tục duy trì mức cao nhất trong nhóm với 3,5%/năm. Đối với kỳ hạn 12 tháng, 3 ngân hàng gồm VietinBank, BIDV và Agribank áp dụng mức lãi suất 4,7%/năm, trong khi Vietcombank niêm yết thấp hơn một chút, ở mức 4,6%/năm.

Việc giữ nguyên mặt bằng lãi suất thời gian qua cho thấy, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn đang đóng vai trò trụ cột trong việc ổn định thị trường tiền tệ, bám sát định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Lãi suất liệu có thể giữ yên đến cuối năm?

Trao đổi với phóng viên, PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ đạo giữ ổn định mặt bằng lãi suất, sẵn sàng chấp nhận hy sinh một phần kiểm soát lạm phát để ưu tiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Với những tín hiệu rõ ràng như vậy, nhiều khả năng mặt bằng lãi suất từ nay đến cuối năm sẽ duy trì xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ. "Nếu có điều chỉnh tăng, mức tăng cũng sẽ rất hạn chế và chỉ diễn ra trong những thời điểm nhất định, khi đó, Chính phủ tiếp tục can thiệp kịp thời để ổn định tình hình" - ông Huân nhìn nhận.

Với mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp, ông Nguyễn Tùng Anh - Giám đốc Khối nghiên cứu Tín dụng và Dịch vụ tài chính bền vững tại FiinRatings nhận định, tăng trưởng tín dụng trong những tháng đầu năm đạt kết quả tích cực nhờ môi trường lãi suất thuận lợi, tạo điều kiện ưu đãi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay. Điều này giúp kênh tín dụng trở thành nguồn vốn hấp dẫn trong bối cảnh hiện tại. Bên cạnh đó, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) nhìn chung vẫn khá dồi dào trong tháng 5, với lãi suất qua đêm dao động từ 3,78% đến 3,92%/năm, trước khi kết thúc tháng ở mức 3,1%.

Dù lãi suất huy động gần đây có xu hướng đi xuống, song theo nhóm phân tích MBS, lãi suất đầu vào có thể tăng dần vào cuối năm, khi nền kinh tế kỳ vọng phục hồi mạnh và tăng trưởng tín dụng được thúc đẩy, có thể đạt hoặc vượt mục tiêu 16%. Bởi tính đến ngày 19/5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 5,59% so với cuối năm 2024 và tăng 18,67% so với cùng kỳ, cho thấy nhu cầu vốn đang hồi phục rõ nét.

"Chúng tôi dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm nay sẽ đạt 17 - 18%, được thúc đẩy bởi sự phục hồi của ngành sản xuất và tiêu dùng nội địa và việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 5,5 - 6% trong năm 2025" - MSB đánh giá.

Gần 9 triệu tỷ đồng đổ về hai “đầu tàu” kinh tế

Tháng 5, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất điều hành, chính sách cho vay tín dụng điều chỉnh linh hoạt theo hướng giảm lãi suất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh tế. Đến ngày 10/5, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,63%/năm, giảm 0,3%/năm so với cuối năm 2024. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) bình quân khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (4%/năm).

Đến ngày 19/5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,49 triệu tỷ đồng, tăng 5,59% so với cuối năm 2024, tăng 18,67% so với cùng kỳ năm 2024. Riêng tại hai “đầu tàu” tăng trưởng của cả nước, dư nợ tín dụng lên tới 8.966 nghìn tỷ đồng, chiếm tới 54,5% toàn ngành, cho thấy vai trò áp đảo của hai trung tâm kinh tế trong việc dẫn dắt tăng trưởng tín dụng cả nước. Trong bối cảnh Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang giữ lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ phục hồi, sức bật tín dụng tại hai “đầu tàu” là tín hiệu tích cực, góp phần đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm.

Thống kê của Chi cục Thống kê TP. Hà Nội cho thấy, ước đến ngày 31/5/2025, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố đạt 4.881 nghìn tỷ đồng, tăng 1,06% so với 30/4/2025 và tăng 8,32% so với 31/12/2024. Còn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố ước tính đến ngày 31/5/2025 tăng 1% so với tháng trước, tăng khoảng 5% so với cuối năm 2024 và tăng mạnh 13,2% so với cùng kỳ, ước đạt 4.085 nghìn tỷ đồng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
Bổ sung 15 nhóm dấu hiệu đáng ngờ trong giao dịch tài sản mã hóa

Bổ sung 15 nhóm dấu hiệu đáng ngờ trong giao dịch tài sản mã hóa

(TBTCO) - Ngày 24/8, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Một nội dung mới trong Luật Phòng, chống rửa tiền là bổ sung “dịch vụ tài sản mã hóa” vào nhóm đối tượng báo cáo.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 20:00
Ngân hàng