Lãi suất tiến sát đáy, nhiều khả năng nhích tăng nửa cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động tiếp tục giảm trong tháng 5 nhưng với nhịp độ chậm lại. Bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại giảm thêm 16 điểm cơ bản, về mức 4,89%/năm, tiến sát ngưỡng 4,7% mà khối quốc doanh duy trì ổn định suốt thời gian qua. Dư địa giảm lãi suất dần thu hẹp, song không loại trừ khả năng có thể nhích tăng nửa cuối năm.
aa
Lãi suất tiến sát đáy, nhiều khả năng nhích tăng nửa cuối năm
Nguồn: MBS tổng hợp Đồ họa tư liệu

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), lãi suất huy động tiếp tục duy trì đà giảm trong tháng 5, tuy nhiên, số lượng ngân hàng điều chỉnh giảm và biên độ giảm đều thấp hơn đáng kể so với các đợt giảm trong tháng 2 và tháng 3.

Số ít ngân hàng điều chỉnh nhỏ giọt

Thống kê từ MBS cho thấy, trong tháng 5, chỉ có 4 ngân hàng gồm: MB, VPBank, Eximbank và GPBank thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với biên độ từ 0,1 - 0,25%/năm ở nhiều kỳ hạn khác nhau. Ở chiều ngược lại, BacABank tăng lãi suất kỳ hạn từ 1 - 15 tháng thêm 0,2%/năm.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động từ đầu năm đến nay tăng nhẹ khoảng 0,08%, chủ yếu do một số ngân hàng thương mại quy mô nhỏ điều chỉnh tăng. Tuy nhiên, phần lớn các ngân hàng vẫn đang thực hiện giảm lãi suất phù hợp với định hướng điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Áp lực tỷ giá và thuế quan khiến lãi suất khó giảm thêm

"Dư địa để tiếp tục hạ lãi suất huy động và cho vay đang dần thu hẹp. Đồng thời, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trì hoãn kế hoạch hạ lãi suất để đối phó với lạm phát có thể tạo thêm áp lực lên tỷ giá trong thời gian tới". Ông Nguyễn Tùng Anh - chuyên gia FiinRatings nhìn nhận

"Đến cuối tháng 5, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng đã giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm về mức 4,89%, trong khi lãi suất của nhóm các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS nêu rõ.

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, từ đầu tháng 5 đến nay, chỉ có số ít nhà băng điều chỉnh giảm lãi suất, với mức điều chỉnh nhỏ giọt. Đơn cử, tại kỳ hạn 3 tháng, VPBank giảm lãi suất từ 3,8% xuống còn 3,6%. Ở kỳ hạn 6 tháng, Eximbank giảm từ 4,9% xuống còn 4,7%; VPBank cùng chung mức giảm 0,2%, xuống còn 4,5%/năm; GPBank giảm nhẹ 0,1% còn 4,8%/năm, song mới tăng lại mức cũ từ đầu tháng 6.

Ở kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, VPBank và Eximbank tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất thêm 0,2%, lần lượt xuống còn 5%/năm và 4,9%/năm. Tại kỳ hạn 24 tháng, lãi suất huy động của hai ngân hàng này cũng được duy trì ở mức tương ứng 5,2%/năm và 5,4%/năm.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất có thể kể đến như: ở kỳ hạn 1 tháng, GPBank tăng lãi suất từ 3,25% lên 3,45% nhằm hút dòng tiền ngắn hạn. Tương tự, tại kỳ hạn 3 tháng, GPBank nâng lãi suất từ 0,2% lên 3,55%. BacABank cũng tăng lãi suất 1 - 6 tháng 0,4%, lên 3,9 - 5,35%/năm.

Trong khi đó, tại khối quốc doanh, từ tháng 5 đến nay, mặt bằng lãi suất huy động các ngân hàng VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank duy trì hoàn toàn ổn định trên tất cả các kỳ hạn. Chẳng hạn, ở kỳ hạn 1 tháng, VietinBank, Vietcombank và BIDV đều giữ nguyên mức lãi suất 1,6%/năm, trong khi Agribank áp dụng mức cao hơn là 2,1%/năm.

Tại kỳ hạn 6 tháng, lãi suất của VietinBank và BIDV ổn định ở mức 3%/năm, Vietcombank ở mức 2,9%/năm, còn Agribank tiếp tục duy trì mức cao nhất trong nhóm với 3,5%/năm. Đối với kỳ hạn 12 tháng, 3 ngân hàng gồm VietinBank, BIDV và Agribank áp dụng mức lãi suất 4,7%/năm, trong khi Vietcombank niêm yết thấp hơn một chút, ở mức 4,6%/năm.

Việc giữ nguyên mặt bằng lãi suất thời gian qua cho thấy, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn đang đóng vai trò trụ cột trong việc ổn định thị trường tiền tệ, bám sát định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Lãi suất liệu có thể giữ yên đến cuối năm?

Trao đổi với phóng viên, PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ đạo giữ ổn định mặt bằng lãi suất, sẵn sàng chấp nhận hy sinh một phần kiểm soát lạm phát để ưu tiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Với những tín hiệu rõ ràng như vậy, nhiều khả năng mặt bằng lãi suất từ nay đến cuối năm sẽ duy trì xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ. "Nếu có điều chỉnh tăng, mức tăng cũng sẽ rất hạn chế và chỉ diễn ra trong những thời điểm nhất định, khi đó, Chính phủ tiếp tục can thiệp kịp thời để ổn định tình hình" - ông Huân nhìn nhận.

Với mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp, ông Nguyễn Tùng Anh - Giám đốc Khối nghiên cứu Tín dụng và Dịch vụ tài chính bền vững tại FiinRatings nhận định, tăng trưởng tín dụng trong những tháng đầu năm đạt kết quả tích cực nhờ môi trường lãi suất thuận lợi, tạo điều kiện ưu đãi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay. Điều này giúp kênh tín dụng trở thành nguồn vốn hấp dẫn trong bối cảnh hiện tại. Bên cạnh đó, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) nhìn chung vẫn khá dồi dào trong tháng 5, với lãi suất qua đêm dao động từ 3,78% đến 3,92%/năm, trước khi kết thúc tháng ở mức 3,1%.

Dù lãi suất huy động gần đây có xu hướng đi xuống, song theo nhóm phân tích MBS, lãi suất đầu vào có thể tăng dần vào cuối năm, khi nền kinh tế kỳ vọng phục hồi mạnh và tăng trưởng tín dụng được thúc đẩy, có thể đạt hoặc vượt mục tiêu 16%. Bởi tính đến ngày 19/5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 5,59% so với cuối năm 2024 và tăng 18,67% so với cùng kỳ, cho thấy nhu cầu vốn đang hồi phục rõ nét.

"Chúng tôi dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm nay sẽ đạt 17 - 18%, được thúc đẩy bởi sự phục hồi của ngành sản xuất và tiêu dùng nội địa và việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 5,5 - 6% trong năm 2025" - MSB đánh giá.

Gần 9 triệu tỷ đồng đổ về hai “đầu tàu” kinh tế

Tháng 5, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất điều hành, chính sách cho vay tín dụng điều chỉnh linh hoạt theo hướng giảm lãi suất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh tế. Đến ngày 10/5, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,63%/năm, giảm 0,3%/năm so với cuối năm 2024. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) bình quân khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (4%/năm).

Đến ngày 19/5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,49 triệu tỷ đồng, tăng 5,59% so với cuối năm 2024, tăng 18,67% so với cùng kỳ năm 2024. Riêng tại hai “đầu tàu” tăng trưởng của cả nước, dư nợ tín dụng lên tới 8.966 nghìn tỷ đồng, chiếm tới 54,5% toàn ngành, cho thấy vai trò áp đảo của hai trung tâm kinh tế trong việc dẫn dắt tăng trưởng tín dụng cả nước. Trong bối cảnh Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang giữ lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ phục hồi, sức bật tín dụng tại hai “đầu tàu” là tín hiệu tích cực, góp phần đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm.

Thống kê của Chi cục Thống kê TP. Hà Nội cho thấy, ước đến ngày 31/5/2025, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố đạt 4.881 nghìn tỷ đồng, tăng 1,06% so với 30/4/2025 và tăng 8,32% so với 31/12/2024. Còn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố ước tính đến ngày 31/5/2025 tăng 1% so với tháng trước, tăng khoảng 5% so với cuối năm 2024 và tăng mạnh 13,2% so với cùng kỳ, ước đạt 4.085 nghìn tỷ đồng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Hà Nội - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Miền Tây - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
NL 99.99 13,150 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼50K
Trang sức 99.9 13,510 ▼20K 14,110 ▼20K
Trang sức 99.99 13,520 ▼20K 14,120 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 ▼3K 14,232 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 ▼3K 14,233 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 ▼3K 1,409 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 ▼3K 141 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 ▼3K 1,399 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 ▼297K 138,515 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 ▼226K 105,085 ▼226K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 ▼204K 95,292 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 ▼183K 85,498 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 ▼64903K 8,172 ▼73723K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 ▼125K 58,494 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cập nhật: 21/10/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17623 17896 18476
CAD 17871 18145 18761
CHF 30690 31066 31704
CNY 0 3832 3927
EUR 28426 28643 29716
GBP 33804 34193 35123
HKD 0 3167 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14379 14971
SGD 19707 19989 20554
THB 684 747 801
USD (1,2) 25616 0 0
USD (5,10,20) 25654 0 0
USD (50,100) 25682 25696 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,479 28,502 29,857
JPY 158.96 159.25 168.89
GBP 33,975 34,067 35,261
AUD 17,809 17,873 18,552
CAD 18,055 18,113 18,784
CHF 30,929 31,025 31,964
SGD 19,824 19,886 20,676
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.97 18.74 20.39
THB 733.02 742.07 794.83
NZD 14,366 14,499 14,930
SEK - 2,566 2,658
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,925.73 - 6,687.29
TWD 715.69 - 867.13
SAR - 6,780.49 7,143.39
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,791 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26060
AUD 17800 17900 18835
CAD 18049 18149 19163
CHF 30924 30954 32536
CNY 3815.1 3840.1 3975.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28600 28630 30355
GBP 34107 34157 35915
HKD 0 3300 0
JPY 159.95 160.45 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14489 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19867 19997 20722
THB 0 714.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,584 25,704 26,000
USD20 25,554 25,704 26,000
USD1 25,534 25,704 26,000
AUD 17,876 17,976 19,081
EUR 28,399 28,499 29,970
CAD 18,000 18,100 19,406
SGD 19,943 20,093 20,910
JPY 160.47 161.97 167.53
GBP 33,996 34,146 35,460
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,793 0
THB 0 748 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/10/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30