Lãi suất tiến sát đáy, nhiều khả năng nhích tăng nửa cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động tiếp tục giảm trong tháng 5 nhưng với nhịp độ chậm lại. Bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại giảm thêm 16 điểm cơ bản, về mức 4,89%/năm, tiến sát ngưỡng 4,7% mà khối quốc doanh duy trì ổn định suốt thời gian qua. Dư địa giảm lãi suất dần thu hẹp, song không loại trừ khả năng có thể nhích tăng nửa cuối năm.
aa
Lãi suất tiến sát đáy, nhiều khả năng nhích tăng nửa cuối năm
Nguồn: MBS tổng hợp Đồ họa tư liệu

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), lãi suất huy động tiếp tục duy trì đà giảm trong tháng 5, tuy nhiên, số lượng ngân hàng điều chỉnh giảm và biên độ giảm đều thấp hơn đáng kể so với các đợt giảm trong tháng 2 và tháng 3.

Số ít ngân hàng điều chỉnh nhỏ giọt

Thống kê từ MBS cho thấy, trong tháng 5, chỉ có 4 ngân hàng gồm: MB, VPBank, Eximbank và GPBank thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với biên độ từ 0,1 - 0,25%/năm ở nhiều kỳ hạn khác nhau. Ở chiều ngược lại, BacABank tăng lãi suất kỳ hạn từ 1 - 15 tháng thêm 0,2%/năm.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động từ đầu năm đến nay tăng nhẹ khoảng 0,08%, chủ yếu do một số ngân hàng thương mại quy mô nhỏ điều chỉnh tăng. Tuy nhiên, phần lớn các ngân hàng vẫn đang thực hiện giảm lãi suất phù hợp với định hướng điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Áp lực tỷ giá và thuế quan khiến lãi suất khó giảm thêm

"Dư địa để tiếp tục hạ lãi suất huy động và cho vay đang dần thu hẹp. Đồng thời, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trì hoãn kế hoạch hạ lãi suất để đối phó với lạm phát có thể tạo thêm áp lực lên tỷ giá trong thời gian tới". Ông Nguyễn Tùng Anh - chuyên gia FiinRatings nhìn nhận

"Đến cuối tháng 5, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng đã giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm về mức 4,89%, trong khi lãi suất của nhóm các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS nêu rõ.

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, từ đầu tháng 5 đến nay, chỉ có số ít nhà băng điều chỉnh giảm lãi suất, với mức điều chỉnh nhỏ giọt. Đơn cử, tại kỳ hạn 3 tháng, VPBank giảm lãi suất từ 3,8% xuống còn 3,6%. Ở kỳ hạn 6 tháng, Eximbank giảm từ 4,9% xuống còn 4,7%; VPBank cùng chung mức giảm 0,2%, xuống còn 4,5%/năm; GPBank giảm nhẹ 0,1% còn 4,8%/năm, song mới tăng lại mức cũ từ đầu tháng 6.

Ở kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, VPBank và Eximbank tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất thêm 0,2%, lần lượt xuống còn 5%/năm và 4,9%/năm. Tại kỳ hạn 24 tháng, lãi suất huy động của hai ngân hàng này cũng được duy trì ở mức tương ứng 5,2%/năm và 5,4%/năm.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất có thể kể đến như: ở kỳ hạn 1 tháng, GPBank tăng lãi suất từ 3,25% lên 3,45% nhằm hút dòng tiền ngắn hạn. Tương tự, tại kỳ hạn 3 tháng, GPBank nâng lãi suất từ 0,2% lên 3,55%. BacABank cũng tăng lãi suất 1 - 6 tháng 0,4%, lên 3,9 - 5,35%/năm.

Trong khi đó, tại khối quốc doanh, từ tháng 5 đến nay, mặt bằng lãi suất huy động các ngân hàng VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank duy trì hoàn toàn ổn định trên tất cả các kỳ hạn. Chẳng hạn, ở kỳ hạn 1 tháng, VietinBank, Vietcombank và BIDV đều giữ nguyên mức lãi suất 1,6%/năm, trong khi Agribank áp dụng mức cao hơn là 2,1%/năm.

Tại kỳ hạn 6 tháng, lãi suất của VietinBank và BIDV ổn định ở mức 3%/năm, Vietcombank ở mức 2,9%/năm, còn Agribank tiếp tục duy trì mức cao nhất trong nhóm với 3,5%/năm. Đối với kỳ hạn 12 tháng, 3 ngân hàng gồm VietinBank, BIDV và Agribank áp dụng mức lãi suất 4,7%/năm, trong khi Vietcombank niêm yết thấp hơn một chút, ở mức 4,6%/năm.

Việc giữ nguyên mặt bằng lãi suất thời gian qua cho thấy, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn đang đóng vai trò trụ cột trong việc ổn định thị trường tiền tệ, bám sát định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Lãi suất liệu có thể giữ yên đến cuối năm?

Trao đổi với phóng viên, PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ đạo giữ ổn định mặt bằng lãi suất, sẵn sàng chấp nhận hy sinh một phần kiểm soát lạm phát để ưu tiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Với những tín hiệu rõ ràng như vậy, nhiều khả năng mặt bằng lãi suất từ nay đến cuối năm sẽ duy trì xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ. "Nếu có điều chỉnh tăng, mức tăng cũng sẽ rất hạn chế và chỉ diễn ra trong những thời điểm nhất định, khi đó, Chính phủ tiếp tục can thiệp kịp thời để ổn định tình hình" - ông Huân nhìn nhận.

Với mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp, ông Nguyễn Tùng Anh - Giám đốc Khối nghiên cứu Tín dụng và Dịch vụ tài chính bền vững tại FiinRatings nhận định, tăng trưởng tín dụng trong những tháng đầu năm đạt kết quả tích cực nhờ môi trường lãi suất thuận lợi, tạo điều kiện ưu đãi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay. Điều này giúp kênh tín dụng trở thành nguồn vốn hấp dẫn trong bối cảnh hiện tại. Bên cạnh đó, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) nhìn chung vẫn khá dồi dào trong tháng 5, với lãi suất qua đêm dao động từ 3,78% đến 3,92%/năm, trước khi kết thúc tháng ở mức 3,1%.

Dù lãi suất huy động gần đây có xu hướng đi xuống, song theo nhóm phân tích MBS, lãi suất đầu vào có thể tăng dần vào cuối năm, khi nền kinh tế kỳ vọng phục hồi mạnh và tăng trưởng tín dụng được thúc đẩy, có thể đạt hoặc vượt mục tiêu 16%. Bởi tính đến ngày 19/5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 5,59% so với cuối năm 2024 và tăng 18,67% so với cùng kỳ, cho thấy nhu cầu vốn đang hồi phục rõ nét.

"Chúng tôi dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm nay sẽ đạt 17 - 18%, được thúc đẩy bởi sự phục hồi của ngành sản xuất và tiêu dùng nội địa và việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 5,5 - 6% trong năm 2025" - MSB đánh giá.

Gần 9 triệu tỷ đồng đổ về hai “đầu tàu” kinh tế

Tháng 5, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất điều hành, chính sách cho vay tín dụng điều chỉnh linh hoạt theo hướng giảm lãi suất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh tế. Đến ngày 10/5, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,63%/năm, giảm 0,3%/năm so với cuối năm 2024. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) bình quân khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (4%/năm).

Đến ngày 19/5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,49 triệu tỷ đồng, tăng 5,59% so với cuối năm 2024, tăng 18,67% so với cùng kỳ năm 2024. Riêng tại hai “đầu tàu” tăng trưởng của cả nước, dư nợ tín dụng lên tới 8.966 nghìn tỷ đồng, chiếm tới 54,5% toàn ngành, cho thấy vai trò áp đảo của hai trung tâm kinh tế trong việc dẫn dắt tăng trưởng tín dụng cả nước. Trong bối cảnh Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang giữ lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ phục hồi, sức bật tín dụng tại hai “đầu tàu” là tín hiệu tích cực, góp phần đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm.

Thống kê của Chi cục Thống kê TP. Hà Nội cho thấy, ước đến ngày 31/5/2025, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố đạt 4.881 nghìn tỷ đồng, tăng 1,06% so với 30/4/2025 và tăng 8,32% so với 31/12/2024. Còn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố ước tính đến ngày 31/5/2025 tăng 1% so với tháng trước, tăng khoảng 5% so với cuối năm 2024 và tăng mạnh 13,2% so với cùng kỳ, ước đạt 4.085 nghìn tỷ đồng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼100K 13,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼100K 13,450 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 ▼100K 14,490 ▼100K
Trang sức 99.99 13,800 ▼100K 14,500 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17978 18253 18872
CHF 31759 32140 32780
CNY 0 3825 3918
EUR 29232 29452 30533
GBP 33837 34226 35174
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14526 15114
SGD 19731 20013 20589
THB 703 766 820
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26135 26135 26451
AUD 17793 17893 18815
CAD 18151 18251 19262
CHF 32025 32055 33633
CNY 3806.4 3831.4 3966.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29432 29462 31184
GBP 34198 34248 36016
HKD 0 3355 0
JPY 159.28 159.78 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14649 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20755
THB 0 732.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80