Lạm phát hạ nhiệt - Yếu tố thuận lợi duy trì mặt bằng lãi suất thấp

Chí Tín
(TBTCO) - Tín hiệu lạm phát hạ nhiệt đã tạm thời làm yên lòng hơn đối với những người đang ở vị thế nắm giữ nhiều tiền. Điều này phần nào hạn chế việc dòng tiền có thể “đổ dồn” vào các kênh tài sản, một phần cũng là điều kiện thuận lợi duy trì mặt bằng lãi suất thấp hỗ trợ các nhu cầu tài chính phục vụ kinh doanh của nền kinh tế.
aa
Lạm phát hạ nhiệt - Yếu tố thuận lợi duy trì mặt bằng lãi suất thấp
Dự báo Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5% cho đến hết quý III/2024. Ảnh tư liệu

Yếu tố tích cực từ chỉ số giá

Số liệu lạm phát từ Tổng cục Thống kê cho thấy, bối cảnh chỉ số giá tiêu dùng đã chuyển hướng từ trạng thái tăng mạnh sang trạng thái giảm, khi CPI tháng 3/2024 giảm 0,23% so với tháng trước. Điều này đã đảo ngược diễn biến so với tốc độ tăng CPI của tháng 2/2024 đạt tới 1,04%. Theo đó, tính chung quý I/2024, CPI tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó về lãi suất danh nghĩa: theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm tháng 3/2024 cho thấy, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 3,3%/năm. Mức lãi suất này chỉ tương đương với mức gần 0,28%/tháng. Nếu chỉ nhìn ở phạm vi 1 tháng, thì lãi suất danh nghĩa nêu trên đang bị thấp khá nhiều so với CPI của tháng 2, đồng nghĩa với lãi suất thực giai đoạn tháng 2 là âm đối với người gửi tiền tiết kiệm. Yếu tố này nếu kéo dài thì đó là một vị thế bất lợi cho những người nắm giữ tiền và thực tế thị trường đã có những giai đoạn dòng tiền bị hút vào các kênh tài sản, trong đó có vàng.

Trong bối cảnh trên, thời gian qua Thủ tướng Chính phủ đã rất kịp thời có những chỉ đạo quyết liệt về thực thi các giải pháp quản lý thị trường vàng. Một trong những nội dung chỉ đạo kịp thời của Thủ tướng là Công điện số 23/CĐ-TTg yêu cầu tăng cường các biện pháp quản lý thị trường vàng. Theo đó, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả, kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp bình ổn thị trường vàng đã được giao tại các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng ban hành thời gian qua.

Ngay sau khi có công điện của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái cũng đã họp để có những chỉ đạo kịp thời đối với các bộ, ngành về các giải pháp quản lý thị trường vàng.

Điều kiện duy trì lãi suất thấp

Diễn biến thời gian gần đây cho thấy, giá vàng trong nước tuy có nhích tăng, nhưng chủ yếu do ảnh hưởng của sự bùng nổ của giá vàng thế giới, trong khi dòng tiền trong nước không còn bị “đổ dồn” vàng như thời điểm hồi cuối tháng 2, đầu tháng 3 nữa. Hiện tại, chênh lệch giá vàng miếng và vàng nhẫn chỉ còn khoảng hơn 10 triệu đồng/lượng, thu hẹp khá nhiều so với mức chênh lệch có lúc lên tới 15 triệu đồng/lượng trong thời gian trước đây.

Chênh lệch giá vàng thế giới và trong nước hiện nay cũng đã được thu hẹp đáng kể so với trước. Tại thời điểm sáng ngày 2/4, giá vàng thế giới ghi nhận mức 2.248 USD/ouce, quy ra tỷ giá VND/USD, thì giá vàng thế giới tính theo tiền Việt tương đương khoảng 67,7 triệu đồng/lượng. Cùng thời điểm này, giá vàng nhẫn trong nước mua vào là 69,45 triệu đồng/lượng và bán ra là 70,7 triệu đồng/lượng.

Lạm phát hạ nhiệt - Yếu tố thuận lợi duy trì mặt bằng lãi suất thấp

Theo đó, giá bán vàng nhẫn bán ra chỉ còn cao hơn giá thế giới khoảng 3 triệu đồng/lượng và giá mua vào cao hơn giá thế giới chưa đến 2 triệu đồng/lượng. Mức chênh lệch này đã được thu hẹp rất nhiều so với trước đây, khi vàng nhẫn có lúc cao hơn giá thế giới khoảng 6 - 7 triệu đồng/lượng, còn vàng miếng có lúc cao hơn giá thế giới tới gần 20 triệu đồng/lượng.

Động thái “điều hòa” trở lại của giá vàng trong nước so với giá thế giới một phần nhờ sự chỉ đạo kịp thời từ Chính phủ, một phần bối cảnh thị trường tiền tệ cũng đã có những thay đổi khi lãi suất thực đã chuyển từ trạng thái âm hồi tháng 2, sang trạng thái dương trở lại vào tháng 3.

Cụ thể, cùng với lãi suất tiền gửi bình quân danh nghĩa 3,3%/năm (tương đương 0,28%/tháng), trong bối cảnh chỉ số CPI tháng 3 âm 0,23% thì lãi suất thực đã ở mức dương 0,51%/tháng. Với trạng thái thị trường tài chính như trên, vị thế của người nắm giữ tiền cũng đang lấy lại được ưu thế và theo đó, những người đang cầm tiền không còn chịu sức ép phải nhanh chóng rải tiền sang các kênh tài sản để “trú ẩn” cho đồng tiền của mình nữa.

Đây chính là điều kiện để cho mặt bằng lãi suất không chịu sức phải tăng trở lại để đảm bảo giá trị đồng tiền, thậm chí cũng vẫn có ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất thấp hơn nữa. Chẳng hạn đầu tháng 4/2024, Vietcombank tiếp tục công bố lãi suất tiết kiệm một số kỳ hạn giảm thấp hơn nữa và hiện tại, lãi suất kỳ hạn 1 - 2 tháng tại ngân hàng này chỉ còn 1,6%/năm.

Diễn biến lãi suất đầu vào giảm được kỳ vọng tiếp tục tạo điều kiện cho lãi suất đầu ra cũng sẽ tiếp tục giảm thấp hơn, qua đó giảm áp lực chi phí tài chính cho doanh nghiệp. Đánh giá về yếu tố chung của nền kinh tế thời điểm hiện tại, ông Tim Leelahaphan - chuyên gia kinh tế Việt Nam và Thái Lan của Ngân hàng Standard Chartered cho biết, Việt Nam vẫn giữ đà phục hồi. Standard Chartered dự báo NHNN sẽ giữ lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5% cho đến hết quý III năm 2024.

Lạm phát trong mục tiêu và lãi suất còn giảm nhẹ

Lạm phát hạ nhiệt - Yếu tố thuận lợi duy trì mặt bằng lãi suất thấp

Kinh tế thế giới và Việt Nam đang phục hồi, riêng Việt Nam dự báo năm 2024-2025 sẽ tốt hơn (nhìn từ các động lực tăng trưởng). Trong đó, lạm phát tăng trong mục tiêu và lãi suất còn giảm nhẹ; tỷ giá sẽ ổn định hơn. Các nghĩa vụ tài chính đã qua giai đoạn khó khăn nhất và khả năng tiếp cận vốn được duy trì. TS. Cấn Văn Lực - Kinh tế gia trưởng BIDV.

Chí Tín

Đọc thêm

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

(TBTCO) - Khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD mà HDBank ký kết ngày 30/7 đã thiết lập một dấu mốc mới trên thị trường vốn Việt Nam. Đây là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay do một tổ chức Việt Nam huy động thành công, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với HDBank và triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Hanoi Re  - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

Hanoi Re - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

(TBTCO) - Có thể đánh giá, việc PVI tái cấu trúc năm 2011 theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một quyết định chiến lược đúng đắn, tạo nền tảng để PVI chuyển từ một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thành định chế tài chính - bảo hiểm hoạt động theo mô hình đa trụ cột chuyên nghiệp.
Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - HOSE: EIB) công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 678,5 tỷ đồng sau khi đã trích đầy đủ dự phòng theo quy định, hoàn thành gần 45% kế hoạch năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

(TBTCO) - Đánh giá thị trường vàng, đá quý vừa qua diễn biến phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của người dân, đại biểu Quốc hội Tô Ái Vang đề nghị Quốc hội giám sát làm rõ trách nhiệm về quản lý thị trường vàng, từ đó làm căn cứ hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng khung xử phạt với các hành vi làm giả vàng, đá quý.
Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 76 USD/ounce lên 4.094 USD/ounce sau khi Fed giữ nguyên lãi suất. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng điều chỉnh tăng trở lại.
Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

(TBTCO) - Ngân hàng NCB báo lãi sau thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 726,7 tỷ đồng, tăng 57% cùng kỳ, trong đó quý II lập kỷ lục với hơn 510 tỷ đồng. Cùng kết quả kinh doanh khởi sắc, tín dụng tăng 37% đưa dư nợ cho vay khách hàng lên hơn 133.500 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, đưa ngân hàng tiến gần mục tiêu hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại.
Bỏ trứng nhiều "giỏ", danh mục đầu tư đa dạng giúp Tái bảo hiểm VINARE báo lãi hơn 290 tỷ đồng

Bỏ trứng nhiều "giỏ", danh mục đầu tư đa dạng giúp Tái bảo hiểm VINARE báo lãi hơn 290 tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2026 của Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) đạt 290,5 tỷ đồng, tăng 17,1% cùng kỳ, nhờ hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gộp trên 257 tỷ đồng. Tổng công ty duy trì danh mục đầu tư tài chính gần 6.400 tỷ đồng, phân bổ đa dạng nhằm tối ưu hiệu quả đầu tư và quản trị rủi ro.
Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa "biến số", đa mục tiêu

Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa "biến số", đa mục tiêu

(TBTCO) - Điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam đang đối mặt nhiều "biến số", tác động đến các chỉ tiêu cân đối lớn như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, tăng trưởng tín dụng... Nửa cuối năm, bài toán không chỉ là giữ nhịp tăng trưởng, mà còn phải phối hợp linh hoạt các công cụ để giữ ổn định hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲50K
Trang sức 99.9 13,510 ▲150K 14,210 ▲150K
Trang sức 99.99 13,520 ▲150K 14,220 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,392 ▲15K 14,322 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,392 ▲15K 14,323 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,387 ▲15K 1,427 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,387 ▲15K 1,428 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 ▲15K 1,407 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▲1485K 139,307 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▲86410K 105,686 ▲95230K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▲1021K 95,836 ▲1021K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▲68659K 85,986 ▲77479K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▲874K 82,186 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▲626K 58,828 ▲626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Cập nhật: 31/07/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17901 18175 18750
CAD 18206 18482 19099
CHF 31911 32292 32926
CNY 0 3850 3942
EUR 29601 29822 30900
GBP 34527 34919 35856
HKD 0 3217 3419
JPY 156 160 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15100 15685
SGD 19910 20192 20767
THB 701 764 817
USD (1,2) 25993 0 0
USD (5,10,20) 26034 0 0
USD (50,100) 26063 26072 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,079 26,079 26,459
USD(1-2-5) 25,036 - -
USD(10-20) 25,036 - -
EUR 29,652 29,676 30,995
JPY 159.2 159.49 169.11
GBP 34,708 34,802 36,012
AUD 18,112 18,177 18,863
CAD 18,393 18,452 19,128
CHF 32,159 32,259 33,217
SGD 20,036 20,098 20,892
CNY - 3,818 3,963
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.9 17.62 19.17
THB 749.01 758.26 811.76
NZD 15,084 15,224 15,676
SEK - 2,705 2,800
DKK - 3,977 4,117
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,006.63 - 6,778.77
TWD 731.72 - 886.37
SAR - 6,876.19 7,242.45
KWD - 83,066 88,376
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,070 26,095 26,475
EUR 29,717 29,836 31,032
GBP 34,756 34,896 35,929
HKD 3,283 3,296 3,413
CHF 32,055 32,184 33,119
JPY 159.63 160.27 168.23
AUD 18,136 18,209 18,807
SGD 20,126 20,207 20,801
THB 767 770 806
CAD 18,421 18,495 19,078
NZD 15,183 15,730
KRW 17.52 19.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26060 26060 26460
AUD 18092 18192 19118
CAD 18382 18482 19498
CHF 32136 32166 33752
CNY 3830.5 3855.5 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29775 29805 31533
GBP 34817 34867 36628
HKD 0 3355 0
JPY 159.91 160.41 170.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15199 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20069 20199 20925
THB 0 730.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,500
USD20 26,050 26,150 26,554
USD1 26,000 26,150 26,604
AUD 18,149 18,249 19,368
EUR 29,597 29,697 31,366
CAD 18,340 18,440 19,754
SGD 20,161 20,311 20,877
JPY 160.58 162.08 167.68
GBP 34,738 34,888 36,059
XAU 13,768,000 0 14,172,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/07/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80