So sức khỏe 2 ngân hàng Techcombank và VPBank nửa đầu năm

Chí Tín
Hai đại gia ngân hàng có vẻ khá cân xứng là Techcombank và VPBank đều đã tiết lộ thông tin kinh doanh 6 tháng đầu năm. Trong đó, bức tranh tài chính mỗi ngân hàng cũng mang một sắc thái nhau thể hiện đặc thù kinh doanh riêng của từng nhà băng.
aa

vpbank

Xét về quy mô, VPBank có vốn chủ sở hữu nhỏ hơn so với Techcombank. Ảnh T.L.

Kẻ tám lạng, người nửa cân

Từ đầu năm 2020, cả Techcombank và VPBank đều đưa ra những kế hoạch kinh doanh giầu tham vọng cho thấy, không ngân hàng nào muốn mình bị lép vế trong cuộc đua của các đại gia ngân hàng năm 2021. Techcombank đặt ra mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2021 lên tới 19.800 tỷ đồng, tăng trưởng 25,3%; trong khi đó VPBank đặt ra tham vọng lợi nhuận trước thuế 16.654 tỷ đồng, tăng trưởng 27,9%.

So sánh về quy mô vốn và tổng tài sản, Techcombank có vẻ nhỉnh hơn với vốn chủ sở hữu là 83.901 tỷ đồng, trong khi vốn của VPBank chỉ ở mức 60.012 tỷ đồng. Tuy nhiên, sức ảnh hưởng trên thị trường tín dụng của VPBank tỏ ra không kém cạnh gì mấy so với người bạn Techcombank. Giá trị huy động tiền gửi khách hàng của VPBank đến ngày 30/6/2021 là 233.591 tỷ đồng, có phần thấp hơn so với mức 289.335 tỷ đồng của Techcombank. Tuy nhiên, tổng số dư cho vay khách hàng của 2 ngân hàng này có quy mô xấp xỉ nhau, tương ứng với 310.618 tỷ đồng của Techcombank và 306.026 tỷ đồng của VPBank.

Với tính chất chung tương tự hầu hết các ngân hàng Việt Nam khi lợi nhuận vẫn phụ thuộc nhiều vào huy động vốn và cho vay, theo đó, cả Techcombank và VPBank đều có thu nhập lãi thuần lớn hơn rất nhiều so với lãi thuần từ hoạt động dịch vụ. Cụ thể, thu nhập lãi thuần của Techcombank lớn gấp 4,6 lần so với thu nhập thuần từ dịch vụ, thu nhập lãi thuần của VPBank lớn gấp gần 8,9 lần thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ.

Tương quan so sánh này cho thấy VPBank có vẻ đang phụ thuộc thu nhập từ hoạt động huy động và cho vay hơn khá nhiều so với Techcombank. Tuy nhiên, xu hướng cho thấy VPBank đang tỏ ra cố gắng cải thiện sự chênh lệch này, thể hiện ở tốc tộ tăng trưởng mảng dịch vụ đang tăng khá nhanh với 49,8%, nhanh hơn khá nhiều so với tốc độ tăng trưởng thu nhập lãi thuần. Trong khi đó, Techcombank lại đang có xu hướng ngược lại với tốc độ tăng trưởng thu nhập thuần từ dịch vụ tuy cũng khá cao với 31,5%, nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng của thu nhập lãi thuần.

Xét về lợi nhuận, Techcombank tỏ ra có ưu thế hơn so với VPBank cả ở giá trị tuyệt đối lẫn tốc độ tăng trưởng. Cụ thể, lợi nhuận sau thuế của Techcombank đạt 9.283 tỷ , tăng trưởng tới 72%, trong khi tăng trưởng lợi nhuận của VPBank cũng ở mức khá, nhưng vẫn thua kém người bạn đồng nghiệp khi đạt 37% về tăng trưởng và 7.218 tỷ đồng về giá trị. Tuy vậy, lợi nhuận sau thuế nếu so với quy mô vốn thì VPBank cũng không phải là lép vế, tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu nửa đầu năm của VPBank là 12%, thậm chí còn cao hơn so với tỷ lệ 11% của Techcombank.

Mối duyện nợ mẹ - con

Diễn biến kinh doanh của 2 ngân hàng này cho thấy một yếu tố trái ngược nữa là hiệu quả kinh doanh của Techcombank có phần được hỗ trợ thêm từ hoạt động của các công ty con, còn VPBank lại bị “níu chân” từ các công ty con.

Lợi nhuận sau thuế của ngân hàng mẹ Techcombank ghi nhận con số tuyệt đối là 7.706 tỷ đồng, tăng trưởng 68% so với cùng kỳ. Tốc độ tăng trưởng này tuy cũng ở mức cao, nhưng vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng 72% của lợi nhuận hợp nhất. Ngoài ra, một chỉ số nữa cho thấy, Techcombank được hưởng nhờ từ công ty con là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu của ngân hàng mẹ chỉ đạt 10%, thấp hơn tỷ lệ 11% theo số liệu tài chính hợp nhất.

Trong khi đó, ở một trạng thái trái ngược, ngân hàng mẹ VPBank lại phải gồng gánh khá nhiều cho các công ty con của mình. Con số thể hiện rõ nhất là lợi nhuận sau thuế của riêng ngân hàng mẹ ghi nhận 9.948 tỷ đồng, thậm chí cao hơn cả lợi nhuận hợp nhất (7.218 tỷ đồng). Điều này cho thấy đã có công ty con VPBank bị thua lỗ trong giai đoạn nửa đầu năm 2021. Nếu tách riêng ngân hàng mẹ, VPBank cũng có sự tăng trưởng lợi nhuận vượt trội hơn hẳn so với Techcombank, với tốc độ 196,8%. Bỏ qua ảnh hưởng của các công ty con, tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu của ngân hàng mẹ VPBank cũng đạt trên 18%, cao hơn khá nhiều so với tỷ lệ 10% của ngân hàng mẹ Techcombank./.

So sánh các chỉ số tài chính cơ bản của Techcombank và VPBank (tỷ đồng)

Techcombank

VPBank

Hợp nhất

Riêng lẻ

Hợp nhất

Riêng lẻ

Vốn chủ sở hữu

83.901

76.331

60.012

54.746

Tổng tài sản

504.304

491.559

451.767

394.753

Tiền gửi của khách hàng

289.335

289.850

233.591

229.546

Tăng trưởng so với đầu năm

4,3%

3,8%

0,07%

-0,07%

Cho vay khách hàng

310.618

302.307

306.026

246.526

Tăng trưởng so với đầu năm

12,8%

11,5%

6,7%

13%

Thu nhập lãi thuần

12.708

12.321

18.352

9.755

Tăng trưởng so với cùng kỳ

56%

57,2%

16,7%

42,4%

Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ

2.782

1.502

2.072

1.837

Tăng trưởng so với cùng kỳ

31,5%

46,5%

49,8%

27,7%

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro

12.985

10.967

17.690

14.625

Tăng trưởng so với cùng kỳ

63,4%

60%

35,9%

122%

Lợi nhuận sau thuế

9.283

7.706

7.218

9.948

Tăng trưởng so với cùng kỳ

72%

68%

37%

196,8%


Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 ▼100K 14,570 ▼100K
Trang sức 99.99 13,980 ▼100K 14,580 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼10K 14,662 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼10K 14,663 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼10K 1,461 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼10K 1,462 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 ▼10K 1,451 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼990K 143,663 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 ▼750K 108,986 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 ▼680K 98,828 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 ▼61K 8,867 ▼61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 ▼583K 84,752 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 ▲45735K 60,663 ▲54555K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cập nhật: 21/09/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18010 18284 18863
CAD 18027 18302 18920
CHF 30987 31365 32012
CNY 0 3842 3939
EUR 29231 29451 30532
GBP 34006 34396 35331
HKD 0 3185 3387
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14580 15167
SGD 19853 20135 20707
THB 697 760 813
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,254 29,277 30,663
JPY 160.86 161.15 170.9
GBP 34,157 34,249 35,434
AUD 18,187 18,253 18,945
CAD 18,206 18,264 18,936
CHF 31,179 31,276 32,201
SGD 19,961 20,023 20,810
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 744.24 753.43 806.71
NZD 14,537 14,672 15,108
SEK - 2,598 2,689
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,708 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,963.02 - 6,730.53
TWD 739.18 - 894.99
SAR - 6,805.73 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18184 18284 19214
CAD 18201 18301 19315
CHF 31202 31232 32806
CNY 3824.9 3849.9 3985
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29404 29434 31159
GBP 34304 34354 36112
HKD 0 3305 0
JPY 161.88 162.38 172.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14692 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20006 20136 20868
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,700 25,820 26,210
USD20 25,670 25,820 26,210
USD1 25,650 25,820 26,210
AUD 18,213 18,313 19,453
EUR 29,197 29,297 30,993
CAD 18,170 18,270 19,598
SGD 20,076 20,226 20,809
JPY 162.93 164.43 170.2
GBP 34,203 34,353 35,710
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30