Sửa Thông tư 16, ngân hàng tìm lại ưu thế trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang xây dựng dự thảo thông tư sửa đổi Thông tư 16/2021/TT-NHNN về việc ngân hàng mua, bán trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) được kỳ vọng có thể tạo thuận lợi hơn cho các ngân hàng gia tăng ưu thế trên thị trường TPDN, hỗ trợ thị trường phục hồi ổn định.
aa
Sửa Thông tư 16, ngân hàng tìm lại ưu thế trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp kỳ vọng khả quan hơn sau khi sửa Thông tư 16. Ảnh: TL
Những chuyện nảy sinh từ Thông tư 16

Thông tư 16 được NHNN ban hành từ cuối năm 2021 quy định việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là ngân hàng) mua, bán TPDN.

Một số nội dung của Thông tư 16 đưa ra nhiều quy định siết chặt hơn so với trước đối với việc ngân hàng tham gia mua trái phiếu. Tại thời điểm đó, trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Thành Hòa - chuyên viên phân tích mảng ngân hàng thuộc Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho biết, một trong những nội dung có thể ảnh hưởng nhiều nhất đến các ngân hàng là quy định không được mua TPDN phát hành có mục đích tăng quy mô vốn hoạt động. Bởi lẽ, những doanh nghiệp phát hành dạng này thời gian qua rất nhiều và ngân hàng cũng là lực lượng tham gia nhiệt tình với vai trò nhà đầu tư. Ngoài ra, một số chuyên gia cũng bày tỏ sự lo ngại về quy định ngân hàng bán trái phiếu chưa niêm yết phải chờ 12 tháng sau mới được phép mua lại.

Quy định về điều khoản chuyển tiếp

Dự thảo Thông tư sửa đổi đưa thêm quy định về điều khoản chuyển tiếp nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng và khách hàng được tiếp tục thực hiện thực hiện các nội dung trong hợp đồng mua, bán TPDN đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm ký kết hợp đồng đó. Việc sửa đổi, bổ sung hợp các đồng trên kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành chỉ được thực hiện khi nội dung sửa đổi, bổ sung phù hợp với quy định tại Thông tư này.

Theo một số chuyên gia tài chính, các quy định chặt chẽ hơn đối với việc ngân hàng mua trái phiếu có tác dụng một phần giúp ngân hàng (và cả các nhà đầu tư khác) khi đầu tư trái phiếu sẽ có sự chọn lọc kỹ càng hơn, ít sa đà vào những loại trái phiếu có rủi ro cao. Tuy nhiên, ở góc độ khác, cũng có nhiều quan điểm cho rằng, các quy định siết chặt của Thông tư 16 là một trong những lý do có thể làm giảm nhiệt thị trường TPDN. Ông Vũ Duy Khánh - Giám đốc phân tích đầu tư Công ty Chứng khoán SmartInvest cho biết, ngân hàng khi được tham gia mua bán trái phiếu cần phải được chủ động linh hoạt vì trong nhiều trường hợp, họ sẽ mua lại của các nhà đầu tư cá nhân, qua đó tăng tính thanh khoản cho trái phiếu.

Ngoài ra, việc ngân hàng được linh hoạt trong hoạt động mua bán trái phiếu cũng còn có thể gia tăng thái độ tích cực của đối tượng này tham gia thị trường TPDN cả với tư cách tổ chức phát hành. Thực tế diễn biến tại thị trường cho thấy, ngân hàng vẫn thường là nhóm đối tượng có tỷ trọng phát hành trái phiếu rất lớn, có nhiều giai đoạn bỏ xa so với nhóm thứ hai là bất động sản.

Những giải pháp tháo gỡ

Trái phiếu doanh nghiệp không phải tiền gửi ngân hàng.

Trong bối cảnh thị trường TPDN suy giảm, vai trò tham gia thị trường của các ngân hàng cũng có phần hạn chế. Tháng 4/2023, NHNN đã ban hành Thông tư 03/2023/TT-NHNN, trong đó ngưng hiệu lực thi hành quy định tại khoản 11 Điều 4 Thông tư số 16. NHNN cho biết, Thông tư 03 được ban hành trong bối cảnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, cần có các giải pháp, quy định kịp thời từ nhiều phía để hỗ trợ, góp phần tháo gỡ khó khăn cho thị trường TPDN, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, đến hết năm 2023 đã hết thời hạn ngưng hiệu lực một số quy định của Thông tư 16 như nêu tại Thông tư 03 và theo đó NHNN đang xây dựng một dự thảo mới để sửa đổi Thông tư 16. Ngoài ra hồi quý IV/2023, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ cũng đã có một số ý kiến chỉ đạo, trong đó yêu cầu về việc theo dõi tình hình thực hiện Thông tư 03 để kịp thời hướng dẫn và tháo gỡ các vướng mắc phát sinh thực tế trong tiếp cận vốn của người dân, doanh nghiệp.

Trên cơ sở này, NHNN cho biết, Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Thông tư số 16 được xây dựng trên quan điểm đưa ra các quy định phù hợp với tình hình thị trường, góp phần tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế.

Một trong những nội dung mới được ban soạn thảo đề xuất là quy định tổ chức thanh toán phải sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt để thanh toán số tiền mua trái phiếu doanh nghiệp cho doanh nghiệp phát hành, bên bán trái phiếu. Ban soạn thảo cho biết quy định này nhằm góp phần hỗ trợ theo dõi, giám sát tình hình sử dụng tiền thu được từ phát hành TPDN, tăng cường minh bạch thông tin, hỗ trợ thị trường TPDN phát triển bền vững; đồng thời phù hợp với chủ trương của Chính phủ về thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.

Ngoài ra, một trong những nội dung từng bị cho rằng đã “trói chân” các ngân hàng dự kiến có thể cũng sẽ được bãi bỏ trong dự thảo Thông tư mới. Đó là khoản 11 điều 4 trong Thông tư 16 quy định việc ngân hàng bán trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết thì phải chờ 12 tháng mới được phép mua lại loại trái phiếu đã bán.

ÔNG NGUYỄN QUỐC HÙNG - TỔNG THƯ KÝ HIỆP HỘI NGÂN HÀNG VIỆT NAM:

Ngân hàng cần giám sát mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp

Sửa Thông tư 16, ngân hàng tìm lại ưu thế trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Liên quan đến huy động trái phiếu, các doanh nghiệp, tổ chức muốn phát hành trái phiếu để huy động vốn hiệu phải xây dựng phương án phát hành giải đáp được đầy đủ các câu hỏi cơ bản: Mục đích đầu tư, hiệu quả đầu tư, lợi nhuận dự tính… Trên cơ sở đó, tổ chức phát hành mới đưa ra mức lãi suất huy động. Nhà đầu tư có quyền phải biết tiền đó đầu tư có đúng như mục đích phát hành không, từ đó mới biết lãi suất được hưởng là đúng với khả năng sinh lời của dự án.

Thực tế quan sát của tôi cho thấy, các doanh nghiệp tổ chức phát hành sử dụng vốn phát hành đúng mục đích đều có khả năng trả nợ trái phiếu đúng hạn, trường hợp có khó khăn sẽ được nhà đầu tư chia sẻ.

Trường hợp những doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhưng không đưa vào sử dụng đúng mục đích mà không ai kiểm soát, dẫn đến sử dụng vốn không vào đúng dự án, phương án khi phát hành dẫn tới không trả được tiền trái phiếu khi đến hạn là những biểu hiện có phần gian dối với nhà đầu tư.

Ngân hàng mua trái phiếu doanh nghiệp nào tương tự như cho doanh nghiệp đó vay. Do vậy, bên vay phải ý thức nghĩa vụ của mình, tuân thủ nghiêm túc sự kiểm tra, giám sát, không thể viện dẫn bất cứ lý do gì để trì hoãn, tránh né thực hiện nghĩa vụ này.

ÔNG TRẦN LÊ MINH - TỔNG GIÁM ĐỐC CÔNG TY ĐỊNH MỨC TÍN NHIỆM VIS RATING: Trái phiếu ngân hàng phát hành ra công chúng ít rủi ro

Sửa Thông tư 16, ngân hàng tìm lại ưu thế trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Trái phiếu là kênh đang tồn tại và đang phát triển và xu hướng chúng sẽ còn tiếp tục phát triển.

Chúng ta thấy rằng nhà đầu tư khi mua TPDN nếu chọn được đúng các doanh nghiệp làm ăn chân chính, sử dụng vốn đúng mục đích thì thường lợi nhuận cũng rất tương xứng. Trong đó, tôi thấy rằng ngân hàng là nhóm phát hành cũng rất tốt và trái phiếu của các ngân hàng phát hành ra công chúng thường có lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi, thông thường chênh lệch từ khoảng 1-1,5%.

Xu hướng của năm 2024 là các ngân hàng sẽ tiếp tục phát hành và phát hành rất nhiều, đây là kênh các nhà đầu tư có thể cân nhắc thay thế cho kênh tiền gửi ngân hàng. Với doanh nghiệp khác thì hiện tôi chưa phân tích đẩy đủ nhưng riêng với trái phiếu ngân hàng thì cũng chưa thấy có rủi ro chậm muộn thanh toán trái phiếu cho nhà đầu tư.

Ngoài ra, trái phiếu ngân hàng và nếu là trái phiếu phát hành ra công chúng thì nhà đầu tư còn có thể giao dịch rất dễ dàng.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18086 18661
CAD 18165 18441 19053
CHF 31804 32185 32827
CNY 0 3839 3931
EUR 29405 29626 30700
GBP 34393 34784 35717
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14950 15540
SGD 19811 20093 20669
THB 699 762 815
USD (1,2) 25999 0 0
USD (5,10,20) 26040 0 0
USD (50,100) 26069 26083 26442
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,511 29,535 30,944
JPY 157.61 157.89 167.43
GBP 34,565 34,659 35,852
AUD 18,000 18,065 18,744
CAD 18,347 18,406 19,082
CHF 32,081 32,181 33,132
SGD 19,929 19,991 20,778
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 748.53 757.77 810.76
NZD 14,953 15,092 15,537
SEK - 2,676 2,771
DKK - 3,948 4,087
NOK - 2,669 2,764
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,038.53 - 6,814.83
TWD 737.41 - 893.26
SAR - 6,871.99 7,237.67
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26450
AUD 18004 18104 19027
CAD 18347 18447 19462
CHF 32062 32092 33678
CNY 3820 3845 3980.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29589 29619 31345
GBP 34703 34753 36513
HKD 0 3355 0
JPY 158.47 158.97 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15068 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19973 20103 20829
THB 0 729.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,096 26,146 26,450
USD20 26,096 26,146 26,450
USD1 26,096 26,146 26,450
AUD 18,042 18,142 19,246
EUR 29,383 29,483 31,141
CAD 18,296 18,396 19,702
SGD 20,050 20,200 20,759
JPY 159.02 160.52 166.06
GBP 34,599 34,749 35,806
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80