Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/11:

Tín dụng tăng tốc để “cán đích”, giá vàng “tuột dốc” không phanh

Mai Tấn
(TBTCO) - Để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động điều chỉnh chỉ tiêu cho từng ngân hàng. NHNN đề nghị các ngân hàng tập trung nguồn tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng kinh tế. Việc này nhằm hạn chế nợ xấu gia tăng và đảm bảo an toàn hệ thống. Trong khi đó, diễn biến thị trường ghi nhận giá vàng thế giới và giá vàng trong nước “tuột dốc” mạnh.
aa
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Dư nợ tín dụng/GDP ở mức cảnh báo Tăng trưởng tín dụng là một trong những yếu tố hỗ trợ thị trường chu kỳ phục hồi

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt thị trường mở

Theo báo cáo của NHNN, tính đến ngày 31/10, tín dụng đã tăng 10,08% so với cuối năm 2023 và tăng 16,65% so với cùng kỳ. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 là khoảng 15%. Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng nhận định, tốc độ tăng hiện tại phù hợp với kế hoạch đã đặt ra, đáp ứng nhu cầu vốn, ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Ngoài ra, NHNN đề nghị các nhà băng tập trung nguồn tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng kinh tế. Việc này nhằm hạn chế nợ xấu gia tăng và đảm bảo an toàn hệ thống.

Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng, trong điều hành chính sách tiền tệ, 3 chỉ số quan trọng nhất là lãi suất, tỷ giá và tín dụng và NHNN phải thực hiện rất căn cơ. Trước hết là NHNN phải ổn định an toàn hoạt động của hệ thống. Khi hệ thống thanh khoản của tổ chức tín dụng được cải thiện thì NHNN mới nới room tín dụng. Về cơ bản, NHNN với vai trò đặt an toàn hoạt động của hệ thống lên hàng đầu, nên NHNN đã xử lý để ổn định thị trường ngoại hối và an toàn của hệ thống.

Tín dụng tăng tốc để “cán đích”, giá vàng “tuột dốc” không phanh
Tín dụng đã tăng 10,08% so với cuối năm 2023 và tăng 16,65% so với cùng kỳ. Ảnh: T.L

Theo Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, dù đến 31/10, tăng trưởng tín dụng mới tăng 10,08% so với cuối năm 2023 (tăng 16,5% so với cùng kỳ năm ngoái) nhưng vẫn có nhiều khả năng đạt được định hướng đề ra vì tăng trưởng tín dụng thường tăng cao trong giai đoạn cuối năm, đặc biệt là 2 tháng cuối năm. Thống kê tăng trưởng tín dụng 2 tháng cuối năm của mấy năm gần đây thì thấy đều tăng khá cao, có những năm tăng 4-5%. Vì đây là khoảng thời gian có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, thiết bị phục vụ Tết và những khoản vay ngắn hạn tăng để mua hàng, cung ứng hàng dịp Tết. Do đó, khả năng tăng trưởng tín dụng có thể đạt được khoảng 15%.

Trên thị trường thế giới, chỉ số USD Index (DXY) tăng điểm mạnh 5 phiên liên tiếp. Chiều ngày 15/11 (giờ Việt Nam), DXY neo ở mức 106,95 điểm - cao nhất trong vòng 1 năm trở lại đây sau khi thị trường đánh giá khả năng lạm phát tại Mỹ có thể gia tăng trở lại trong 4 năm nhiệm kỳ tiếp theo của tân Tổng thống Donald Trump, khiến những lựa chọn chính sách của FED bị thu hẹp dần.

Trong bối cảnh hiện nay, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt thị trường mở để vừa ổn định tỷ giá vừa đảm bảo thanh khoản cho hệ thống, trong tuần NHNN hút ròng hai phiên đầu tuần rồi bơm ròng vào các phiên ngày 13 và 14/11.

Cụ thể, phiên 13/11, NHNN chào thầu 30.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4%. Có 29.999,93 tỷ đồng trúng thầu. Có 14.999,99 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu ở kỳ hạn 28 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 300 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất trở lại mức 4%. Có 5.300 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 19.999,94 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Tiếp đó ngày 14/11, NHNN chào thầu 20.000 tỷ đồng, kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có 19.999,91 tỷ đồng trúng thầu. Có 15.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở kỳ hạn 28 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 1.450 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất trở lại mức 4,0%. Có 6.300 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 9.849,91 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Giá vàng tiếp tục lao đốc không phanh

Diễn biến đáng chú tuần qua với giá vàng là sự tuột dốc mạnh của giá vàng thế giới sau một giai đoạn tăng nóng trước đó. Giá vàng thế giới ghi nhận giảm 5 phiên liên tiếp do vừa chịu sức ép khi đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng, sáng ngày 15/11 giá vàng niêm yết ở mức 2.566,31 USD/Ounce, giảm hơn 200 USD/ounce so với vùng đỉnh.

Theo chuyên gia vàng Trần Duy Phương, nguyên nhân trực tiếp khiến giá vàng thế giới hạ chính là đồng USD tăng giá, tâm lý lạc quan về triển vọng kinh tế Mỹ dưới thời kỳ chính quyền của ông Donald Trump nhiệm kỳ 2, đồng thời tâm lý thị trường thay đổi sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ ngày 5/11.

Tín dụng tăng tốc để “cán đích”, giá vàng “tuột dốc” không phanh
Giá vàng trong nước giảm mạnh tuần thư hai liên tiếp. Ảnh: T.L

Ông Trần Duy Phương dự báo, giá vàng thế giới còn khả năng suy giảm thêm 70-80 USD nữa, về khoảng 2.550 USD/ounce, thì mới kết thúc việc điều chỉnh này. Đến năm 2025, nhiều khả năng vàng sẽ tiếp tục tỏa sáng. Giá vàng có thể tăng trở lại lên mốc 2.800 USD, 2.900 USD/ounce trong năm nay, nhưng để chạm tới mốc 3.000 USD/ounce là rất khó.

Cùng chiều với giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng “rơi tự do” về dưới mốc 80 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 15/11 giữ ở mức 83,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 80 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, giảm 2 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng giảm mạnh về mức dưới 80 triệu đồng/lượng. Thời điểm đầu giờ chiều ngày 15/11, tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 82,7 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 81 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 80,7 – 82,7 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 80,78 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 82,68 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 2-3 triệu đồng/lượng. Như vậy chỉ trong vòng hai tuần giá vàng SJC đã giảm hơn 6 triệu đồng/lượng, vàng nhẫn giảm 8-9 triệu đồng/ lượng.

Tỷ giá nhích tăng nhẹ

Tỷ giá trung tâm đã hôm đầu tuần ngày 11/11 ghi nhận ở mức 24.278 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó tăng nhẹ vào hôm thứ Tư, những phiên còn lại của tuần NHNN tiếp tục điều chỉnh tỷ giá tăng. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.290 đồng/USD, giảm 41 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng nhích tăng nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.470 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng nhẹ tỷ giá bán ra vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.504 đồng/USD, tăng 34 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,550 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,750
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 14,640
Trang sức 99.99 13,950 14,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 148
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 1,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 146
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 144,554
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 9,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 89,219
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 85,277
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 61,038
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 16/07/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80