VAMC đã mua hơn 8.200 tỷ đồng nợ xấu theo giá trị trường

Dương An
Từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực (15/8/2017) đến 31/5/2020, VAMC đã mua được 83 khoản nợ đối với 36 khách hàng với dư nơ gốc là 8.013 tỷ đồng và giá mua nợ là 8.207 tỷ đồng. Việc phát triển thị trường mua, bán nợ hiện vẫn còn gặp một số khó khăn.
aa

VAMC

Ảnh T.L

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), từ khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) có hiệu lực (15/8/2017) đến 31/5/2020, Công ty Quản lý tài sản các TCTD Việt Nam (VAMC) đã mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt đạt 68.092 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng, tương ứng với giá nợ mua là 66.081 tỷ đồng. Riêng năm 2019, VAMC đã mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt đạt 20.544 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng với giá mua nợ 19.846 tỷ đồng, hoàn thành chỉ tiêu đã được NHNN giao năm 2019, đạt 99,23% kế hoạch.

Đối với các khoản nợ mua theo giá thị trường, từ 15/8/2017 đến 31/5/2020, VAMC đã mua được 83 khoản nợ đối với 36 khách hàng với dư nơ gốc là 8.013 tỷ đồng và giá mua nợ là 8.207 tỷ đồng. Trong đó, riêng năm 2019, VAMC mua 2.131 tỷ đồng dư nợ gốc với giá mua 2.247 tỷ đồng, đạt 112% chi tiêu mua nợ theo giá thị trường đã được NHNN phê duyệt và điều chỉnh.

Sau khi mua nợ theo giá thị trường, VAMC đã triển khai ngay các giải pháp xử lý nợ phù hợp để thu hồi nợ (thường xuyên đôn đốc khách hàng trả nợ, áp dụng biện pháp cơ cấu lại nợ, thu giữ, bán đấu giá, bán thoả thuận tài sản, hỗ trợ bên mua tài sản hoàn thiện các thủ tục pháp lý liên quan đến chuyển nhượng dự án…).

Bên cạnh đó, hoạt động đấu giá khoản nợ, tài sản đảm bảo tại VAMC cũng được đẩy mạnh. Từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến 31/5/2020, VAMC đã tổ chức đấu giá thành công 15 khoản nợ với tổng giá trị trúng đấu giá đạt 1.322 tỷ đồng. Đồng thời, VAMC đã thu giữ, nhận bàn giao tài sản đảm bảo của 7 khách hàng/nhóm khách hàng. Riêng năm 2019, VAMC đã thu giữ và nhận bàn giao tài sản đảm bảo của 3 khách hàng/nhóm khách hàng.

Theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết 42, TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, bán nợ xấu, tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu công khai, minh bạch, theo quy định của pháp luật. Giá bán phù hợp với giá thị trường, có thể cao hơn hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ. Tuy nhiên, theo NHNN, việc phát triển thị trường mua, bán nợ hiện vẫn còn gặp một số khó khăn. Việc mua bán nợ xấu chủ yếu diễn ra giữa TCTD và 2 đơn vị mua nợ chính là VAMC và Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC), thiếu những nhà đầu tư khác trong nước và nước ngoài.

Sau khi mua các khoản nợ, bên mua nợ thực hiện quản lý, khai thác và vận hành tài sản đảm bảo cũng như quản lý rủi ro thanh khoản liên quan tới các tài sản đảm bảo này. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng hoặc uỷ thác quản lý các khoản nợ này còn khó khăn vì chưa có thị trường nợ thứ cấp. Đồng thời, hiện tại chưa có các hoạt động phái sinh như nghiệp vụ chứng khoán hoá tài sản, chứng khoán hoá nợ thường và nợ xấu. Điều này dẫn đến thanh khoản của các khoản nợ rất thấp, làm giảm mức độ hấp dẫn của các khoản nợ đã mua./.

Dương An

Dương An

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,350 16,550
Nguyên Liệu 99.9 16,300 16,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 16,270
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17832 18106 18682
CAD 18571 18848 19462
CHF 32708 33093 33738
CNY 0 3470 3830
EUR 29935 30208 31236
GBP 34503 34895 35829
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15021 15608
SGD 20048 20331 20860
THB 722 786 839
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26359
AUD 17999 18099 19024
CAD 18748 18848 19864
CHF 32939 32969 34548
CNY 3758.2 3783.2 3918.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30103 30133 31856
GBP 34783 34833 36593
HKD 0 3355 0
JPY 162.25 162.75 173.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15121 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20203 20333 21066
THB 0 751 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80