Vietinbank tổ chức thành công đại hội cổ đông năm 2022

(TBTCO) - Ngày 29/4/2022 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2022. Với sự nhất trí cao, đại hội đã thông qua các nội dung quan trọng.
aa

Năm 2021, công tác quản trị điều hành của VietinBank có những thay đổi mạnh mẽ theo hướng chủ động, thúc đẩy tư duy quản lý linh hoạt, phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm vì lợi ích chung; đồng thời bảo đảm tính kỷ luật, kỷ cương, có giám sát chặt chẽ. Nhờ đó, VietinBank đã đạt được những kết quả tích cực cả về quy mô và hiệu quả, hoàn thành và vượt các mục tiêu kế hoạch ĐHĐCĐ giao, tạo tiền đề vững chắc cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, tăng trưởng tín dụng có chọn lọc, hiệu quả, tăng trưởng vào các khu vực địa bàn trọng tâm, trọng điểm, các ngành, lĩnh vực có tiềm năng. Dư nợ tín dụng tại thời điểm 31/12/2021 đạt hơn 1,14 triệu tỷ đồng, tăng 11,1% so với năm 2020. Trong đó, dư nợ tăng trưởng tập trung vào các phân khúc khách hàng có tỷ suất sinh lời cao, tỷ trọng dư nợ bán lẻ và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục được cải thiện.

Vietinbank tổ chức thành công đại hội cổ đông năm 2022
Toàn cảnh đại hội

Thứ hai, thực hiện cân đối vốn hiệu quả, điều hành tăng trưởng nguồn vốn phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng trên cơ sở đảm bảo các hệ số an toàn thanh khoản, tối ưu hóa cơ cấu vốn để kiểm soát chi phí, nâng cao hiệu quả thu nhập lãi thuần. Kết thúc năm 2021, nguồn vốn huy động thị trường I hợp nhất đạt 1,16 triệu tỷ đồng, tăng hơn 17,3% so với năm 2020. Nguồn vốn CASA thị trường I tiếp tục được cải thiện, tăng hơn 20% so với năm 2020.

Thứ ba, đa dạng hóa cơ cấu thu nhập, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Năm 2021, VietinBank đã triển khai các chủ điểm kinh doanh theo hướng cung cấp giải pháp dịch vụ tài chính ngân hàng toàn diện cho khách hàng, lấy khách hàng là trung tâm, trở thành ngân hàng phục vụ chính và đáp ứng nhu cầu của toàn bộ hệ sinh thái của khách hàng với các quy trình xử lý đơn giản, thời gian xử lý giao dịch nhanh.

Theo đó, tỷ lệ thu ngoài lãi năm 2021 đạt 21,4%, trong đó tăng trưởng thu phí tài trợ thương mại, phí bảo lãnh, lợi nhuận hoạt động kinh doanh ngoại tệ (KDNT) của ngân hàng rất tích cực. VietinBank tiếp tục đứng top đầu về cả doanh số và thị phần KDNT trên thị trường, góp phần cải thiện cơ cấu thu nhập của VietinBank theo hướng bền vững.

Vietinbank tổ chức thành công đại hội cổ đông năm 2022

Ông Trần Minh Bình - Chủ tịch HĐQT VietinBank phát biểu tại đại hội

Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ chất lượng nợ, thu hồi nợ xấu, nợ xử lý rủi ro đạt kết quả ấn tượng. VietinBank tăng cường công tác quản trị rủi ro, công tác dự báo, nhận diện các khách hàng tiềm ẩn rủi ro, chủ động xây dựng các kịch bản chất lượng nợ. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1,26%. VietinBank chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro, tỷ lệ bao nợ xấu hợp nhất tại 31/12/2021 đạt 180,4%.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả sử dụng, quản trị chi phí. VietinBank đạt hiệu quả sử dụng, quản trị chi phí đạt mức tốt nhất trong nhiều năm qua. Tỷ lệ CIR được kiểm soát tốt, ở mức 32,3%.

Thứ sáu, nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị thành viên. Năm 2021, các công ty con, ngân hàng con và công ty liên kết hoạt động hiệu quả, lợi nhuận trước thuế tăng trưởng 22% so với năm 2020.

Năm 2021, VietinBank chủ động cắt giảm hơn 7.000 tỷ đồng lợi nhuận từ việc giảm lãi suất cho vay, phí, thoái lãi để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của VietinBank năm 2021 đạt 17.589 tỷ đồng, tăng 2,7% so với năm 2020.

Vietinbank tổ chức thành công đại hội cổ đông năm 2022
Đoàn chủ tọa tại đại hội

Đặc biệt, tháng 7/2021, VietinBank đã hoàn tất việc tăng vốn điều lệ từ 37.234 tỷ đồng lên 48.058 tỷ đồng thông qua phương án phát hành cổ phiếu để chi trả cổ tức từ lợi nhuận còn lại sau thuế, trích quỹ và chia cổ tức tiền mặt các năm 2017 - 2019 và hiện là ngân hàng lớn thứ hai trong Ngành về vốn điều lệ. Qua đó tạo tiền đề giúp VietinBank nâng cao năng lực tài chính, tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng cường khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Bước sang năm 2022, trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội đất nước có sự phục hồi và dần tăng trưởng trở lại, VietinBank triển khai thực hiện có kết quả chiến lược dài hạn và các mục tiêu, kế hoạch của năm 2022.

Các chỉ tiêu tài chính năm 2022 của VietinBank dự kiến như sau: Tổng tài sản, tăng trưởng từ 5% - 10%; dư nợ tín dụng theo phê duyệt của NHNN (Mức tăng trưởng cụ thể theo điều hành chính sách tiền tệ, chỉ tiêu do NHNN giao và nhu cầu cần thiết của nền kinh tế); Nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng 8% - 10%, có điều chỉnh phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của NHNN; Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ tín dụng theo Thông tư 02: < 1,8%;

Vietinbank tổ chức thành công đại hội cổ đông năm 2022
Ông Trần Minh Bình Chủ tịch HĐQT chúc mừng tân Thành viên HĐQT VietinBank

Bên cạnh đó, ngân hàng cũng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế riêng lẻ: tăng trưởng 15% và được điều chỉnh theo phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (VietinBank tiếp tục cải thiện mạnh mẽ hiệu quả kinh doanh, thực hiện tốt vai trò ngân hàng chủ lực, trụ cột và chủ đạo của nền kinh tế); cổ tức: tỷ lệ chi trả cổ tức và cơ cấu chi trả cổ tức (tiền mặt, cổ phiếu) thực hiện theo phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân thủ quy định của pháp luật; Các tỷ lệ an toàn hoạt động: Tuân thủ quy định của NHNN.

Về nhân sự, với sự nhất trí cao Đại hội đã thông qua bầu bổ sung ông Nguyễn Đức Thành - Phó Tổng giám đốc giữ chức vụ thành viên HĐQT VietinBank nhiệm kỳ 2019 - 2024.

Hoạt động kinh doanh của VietinBank trong quý I/2022 đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Quy mô tổng tài sản tại 31/3/2022 là 1.663.730 tỷ đồng, tăng 8,6% so với đầu năm. Cho vay khách hàng tăng trưởng tích cực, tập trung vào các phân khúc khách hàng có tỷ suất sinh lời cao, tỷ trọng dư nợ bán lẻ và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục được cải thiện.

Tiền gửi của khách hàng đạt 1.213 nghìn tỷ đồng, tăng 4,4% so 31/12/2021, nguồn vốn được cân đối phù hợp với tăng trưởng dư nợ tín dụng, chú trọng gia tăng tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn ngắn.

Quy mô và tỷ trọng tiền gửi CASA tiếp tục tăng trưởng…Thu nhập hoạt động tăng trưởng 8,9% so với cùng kỳ. Trong đó, đáng chú ý là thu xử lý rủi ro và thu KDNT tăng trưởng tương ứng 163% và 130% so với cùng kỳ 2021. Lãi thuần từ hoạt động khác đạt 1.877 tỷ đồng, tăng trưởng 328% so cùng kỳ 2021.

Chi phí hoạt động tiếp tục được kiểm soát và nâng cao hiệu quả, ưu tiên chi phí cho các hoạt động trực tiếp phục vụ hoạt động kinh doanh, các hoạt động chuyển đổi số, nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng nhân sự để tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của ngân hàng.

Chi phí DPRR tín dụng trong quý I/2022 khoảng 4,4 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 3 nghìn tỷ đồng (tương đương tăng 228%) so với cùng kỳ năm trước do VietinBank luôn chủ động nhận diện rủi ro và chuyển nhóm nợ phù hợp với mức độ rủi ro của khách hàng; đồng thời thực hiện trích lập DPRR đầy đủ theo đúng quy định của NHNN. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng từ 180% năm 2021 lên hơn 190%. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2022 đạt hơn 5,8 nghìn tỷ đồng./.

Tài Tâm

Đọc thêm

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

(TBTCO) - Sun Life Việt Nam vừa chính thức công bố chương trình Hoops + Health năm 2026 - một dự án cộng đồng quy mô khu vực châu Á do Sun Life và tổ chức Beyond Sport đồng sáng lập - khẳng định cam kết dài hạn trong việc thúc đẩy lối sống năng động và xây dựng nền tảng sức khỏe bền vững cho thanh thiếu niên châu Á thông qua bộ môn bóng rổ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Năm 2026, VINARE đặt mục tiêu doanh thu, trong đó gồm doanh thu phí bảo hiểm, đạt 4.266 tỷ đồng, tăng 10,2%; lợi nhuận trước thuế 560 tỷ đồng, tăng 10,3% và duy trì cổ tức tiền mặt 10%. Trước đó, dù chịu tác động từ thiên tai diễn biến phức tạp, doanh nghiệp vẫn hoàn thành vượt kế hoạch kinh doanh năm 2025.
Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Kim TT/AVPL 17,430 ▲230K 17,730 ▲230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Nguyên Liệu 99.99 16,000 ▲50K 16,200 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,950 ▲50K 16,150 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,950 ▲50K 17,250 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,900 ▲50K 17,200 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,830 ▲50K 17,180 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,840 ▲180K 17,540 ▲180K
Trang sức 99.99 16,850 ▲180K 17,550 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 ▲18K 17,672 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 ▲18K 17,673 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 ▲18K 1,765 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 ▲18K 1,766 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 ▲18K 175 ▼1557K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 ▲1782K 173,267 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 ▲1350K 131,413 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 ▲1224K 119,162 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 ▲1098K 106,911 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 ▲1049K 102,185 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 ▲750K 73,132 ▲750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cập nhật: 01/04/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17668 17941 18517
CAD 18406 18683 19302
CHF 32388 32771 33418
CNY 0 3470 3830
EUR 29843 30115 31146
GBP 34110 34500 35426
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14818 15405
SGD 19940 20222 20749
THB 720 784 837
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,927 29,951 31,190
JPY 161.19 161.48 170.17
GBP 34,218 34,311 35,280
AUD 17,890 17,955 18,520
CAD 18,581 18,641 19,207
CHF 32,607 32,708 33,467
SGD 20,055 20,117 20,788
CNY - 3,781 3,899
HKD 3,291 3,301 3,418
KRW 16.09 16.78 18.14
THB 769.62 779.13 830.09
NZD 14,806 14,943 15,293
SEK - 2,736 2,816
DKK - 4,005 4,121
NOK - 2,673 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,099.75 - 6,845.57
TWD 744.5 - 896.39
SAR - 6,895.21 7,219.58
KWD - 83,477 88,275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26360
AUD 17860 17960 18885
CAD 18596 18696 19707
CHF 32627 32657 34231
CNY 3765.9 3790.9 3926.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30015 30045 31772
GBP 34366 34416 36177
HKD 0 3355 0
JPY 162.44 162.94 173.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14918 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20108 20238 20971
THB 0 749.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17500000 17500000 17800000
SBJ 16000000 16000000 17800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,360
USD20 26,165 26,215 26,360
USD1 23,850 26,215 26,360
AUD 17,911 18,011 19,132
EUR 30,138 30,138 31,569
CAD 18,537 18,637 19,952
SGD 20,180 20,330 20,907
JPY 162.78 164.28 168.95
GBP 34,231 34,581 35,470
XAU 17,498,000 0 17,802,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80