VINARE sắp từ chối nhận tái bảo hiểm và đầu tư các dự án liên quan điện than

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia VINARE đặt mục tiêu đến năm 2025 loại bỏ hoàn toàn tái bảo hiểm cho dự án nhiệt điện than nước ngoài, hạn chế tái bảo hiểm than trong nước và vận chuyển than. Đồng thời, không đầu tư trái phiếu liên quan đến than và điện than, ưu tiên trái phiếu xanh và tích hợp tiêu chí ESG vào danh mục đầu tư.
aa
VINARE – 30 năm đồng hành và phát triển cùng thị trường bảo hiểm Việt Nam Đại hội đồng cổ đông VINARE: Đưa lợi nhuận vượt mốc 500 tỷ đồng, giữ đà tăng trưởng 5 năm tới VINARE dự chi 182 tỷ đồng trả cổ tức, dự kiến miễn nhiệm một thành viên Hội đồng Quản trị

Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE - mã Ck: VNR) vừa phát hành báo cáo phát triển bền vững năm 2024.

Theo Chủ tịch Hội đồng Quản trị Nguyễn Anh Tuấn, VINARE tiếp tục kiên định theo đuổi định hướng phát triển bền vững và tích hợp ESG một cách toàn diện hơn trong vận hành, không chỉ “nói về ESG” mà thực sự bắt đầu “sống cùng ESG”, từ tư duy lãnh đạo đến hành động cụ thể.

Bước tiến đáng ghi nhận trong hành trình phát triển bền vững của VINARE trong năm qua là việc hợp tác với đơn vị độc lập để thực hiện đo lường phát thải khí nhà kính và xác định dấu chân carbon của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các hoạt động vì cộng đồng vẫn được Tổng công ty duy trì và chú trọng, như một phần không thể thiếu trong định hướng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

"Trong tầm nhìn dài hạn, VINARE mong muốn trở thành một doanh nghiệp tái bảo hiểm uy tín và có trách nhiệm - không chỉ vững vàng về tài chính, mà còn tiên phong trong việc tích hợp các yếu tố phát triển bền vững vào chiến lược kinh doanh cốt lõi. Chúng tôi hiểu rằng, ở vị thế là một trung gian tài chính đặc thù, VINARE có thể và nên đóng vai trò kết nối, giữa doanh nghiệp bảo hiểm và những giải pháp dài hạn, giữa tăng trưởng kinh tế và trách nhiệm với môi trường -xã hội" - Chủ tịch VINARE nêu rõ.

VINARE sắp từ chối nhận tái bảo hiểm và đầu tư các dự án liên quan điện than
Nguồn: VINARE.
Liên quan đến việc phát triển bền vững, báo cáo nêu rõ, trong năm 2024, VINARE loại bỏ hoàn toàn việc nhận tái bảo hiểm cho các hợp đồng tạm thời dự án nhiệt điện than nước ngoài; không phát sinh mới các hợp đồng nhận tái bảo hiểm tạm thời dự án nhiệt điện than trong nước. Song song với việc này, VINARE chủ trương ưu tiên nhận tái bảo hiểm quá trình xây dựng, lắp đặt và vận hành cho các dự án năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió.

Về mục tiêu trong hoạt động nghiệp vụ, VINARE đặt mục tiêu loại bỏ hoàn toàn việc nhận tái bảo hiểm cho các dự án nhiệt điện than nước ngoài ngay trong năm 2025.

Đối với các dự án nhiệt điện than trong nước, VINARE thực hiện chính sách hạn chế từ năm 2025 và tiến tới loại bỏ hoàn toàn việc nhận tái bảo hiểm cho các dự án vào năm 2035. Các hợp đồng hiện hữu vẫn được duy trì cho đến khi kết thúc hiệu lực.

Việc tái bảo hiểm cho hoạt động vận chuyển than cũng được hạn chế từ năm 2025 và sẽ chấm dứt hoàn toàn vào năm 2035.

Đồng thời, VINARE đã dừng việc nhận bảo hiểm bồi thường cho người lao động, bảo hiểm trách nhiệm đối với người lao động, kiến trúc sư và kỹ sư của các nhà máy nhiệt điện than từ năm 2024 và cam kết tiếp tục duy trì loại bỏ vào năm 2025.

Trong hoạt động đầu tư, VINARE thể hiện cam kết rõ ràng với xu hướng phát triển bền vững khi không đầu tư vào các trái phiếu mới phát hành cho dự án khai thác than và điện than từ năm 2024, tiến tới hạn chế vào năm 2025 và loại bỏ hoàn toàn vào năm 2035. Số tiền VINARE tái đầu tư năm 2024 lên đến 5.099 tỷ đồng, tăng 13,2% cùng kỳ, nhằm tối ưu hóa nguồn vốn nhàn rỗi và tái đầu tư một cách hiệu quả, từ đó, gia tăng giá trị cho các cổ đông mà còn tạo ra những tác động tích cực cho nền kinh tế.

Danh mục đầu tư ủy thác đã được cập nhật nội dung đánh giá các yếu tố ESG (môi trường, xã hội, quản trị) vào các hợp đồng tái tục. Đồng thời, VINARE ưu tiên đầu tư vào các loại trái phiếu xanh và trái phiếu phát triển bền vững khi loại hình này được phát hành.

Song song với đó, Tổng công ty tham gia tích cực vào hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của bảo hiểm trong việc phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro thiên tai.

Là doanh nghiệp tiên phong khai mở thị trường tái bảo hiểm, đến nay, VINARE trở thành nhà đứng đầu nhận tái bảo hiểm tại Việt Nam. Thông qua những mục tiêu và hành động cụ thể, VINARE từng bước khẳng định vai trò của một doanh nghiệp tái bảo hiểm tiên phong trong định hướng phát triển bền vững, hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ, động lực tăng trưởng đến từ các nguồn thu ngoài lãi tăng gần gấp 3 lần. SHB tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, dư nợ cấp tín dụng SHB đạt 664.280 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu duy trì 1,76%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80