Đại hội đồng cổ đông VINARE: Đưa lợi nhuận vượt mốc 500 tỷ đồng, giữ đà tăng trưởng 5 năm tới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia VINARE đặt mục tiêu giữ đà tăng doanh thu và lợi nhuận 8%, đưa lợi nhuận trước thuế vượt 500 tỷ đồng, cao nhất trong lịch sử. Tổng công ty cũng cam kết tăng trưởng bền vững, lựa chọn rủi ro thận trọng, đảm bảo có lãi từ kinh doanh nghiệp vụ, không chạy đua theo doanh số.
aa
VINARE – 30 năm đồng hành và phát triển cùng thị trường bảo hiểm Việt Nam VINARE cam kết tiếp tục “Gắn kết sức mạnh, cộng hưởng giá trị” với cổ đông, đối tác, khách hàng Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Ngày 28/4, Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE - Mã Ck: VNR) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025.

Đảm bảo lãi từ kinh doanh, không chạy đua theo doanh số

Đại hội thông qua nhiều nội dung quan trọng như điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2024, báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024 và kế hoạch kinh doanh năm 2025, định hướng mục tiêu kế hoạch giai đoạn 2025 - 2029, phương án phát hành cổ phiếu trả cổ tức năm 2024, bầu thành viên Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Trình bày phương hướng nhiệm vụ, hoạt động kinh doanh năm 2025 tại đại hội, lãnh đạo VINARE cho biết, thị trường bảo hiểm Việt Nam có cơ hội phát triển nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc, chiến lược phát triển mới và khuôn khổ pháp lý hoàn thiện.

Dự kiến tổng doanh thu phí bảo hiểm sẽ tăng nhẹ so với năm 2024, trong đó lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 10% và bảo hiểm nhân thọ tăng 3%. Tuy nhiên, thị trường đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt trong nghiệp vụ bảo hiểm tài sản sau khi áp dụng Nghị định 67/2023/NĐ-CP, khiến phí bảo hiểm bắt buộc đã giảm đáng kể so với trước đây. Vì vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm gặp khó khăn trong việc đàm phán và duy trì mức phí, đồng thời hạn chế cơ hội tăng trưởng.

Thêm vào đó, thiên tai ngày càng nghiêm trọng và xu hướng giảm giá trên thị trường tái bảo hiểm quốc tế cũng sẽ tác động nhiều chiều đến hoạt động kinh doanh.

Phấn đấu doanh thu tăng trưởng đều đặn 8% hàng năm

Kế hoạch kinh doanh năm 2025 của VINARE đặt mục tiêu tổng doanh thu 3.594 tỷ đồng, tăng 8% so với năm trước; lợi nhuận trước thuế tăng 8,1%, đạt 503 tỷ đồng và vượt mức đỉnh lợi nhuận từng đạt được năm 2023 (499,9 tỷ đồng). Từ 2026 - 2029, phấn đấu tăng trưởng tổng doanh thu 8%/năm, hàng năm căn cứ tình hình thực tế để rà soát, báo cáo Đại hội đồng cổ đông.

Trong năm 2025, VINARE đặt trọng tâm vào việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh, triển khai đề án tái cấu trúc, phát triển sản phẩm dịch vụ mới, tăng cường năng lực tái bảo hiểm, chuỗi cung ứng giá trị cho khách hàng, quản lý chặt chẽ chi phí, rủi ro và nâng hạng tín nhiệm quốc tế.

Theo đó, VINARE tiếp tục chủ trương tăng cường quản trị rủi ro, mở rộng thị trường tái bảo hiểm, nâng cao năng lực cung cấp giá trị gia tăng như quản lý rủi ro, đào tạo, phát triển sản phẩm mới.

Trong lĩnh vực kinh doanh tái bảo hiểm, VINARE tuân thủ kỷ luật khai thác, lựa chọn rủi ro thận trọng, đảm bảo có lãi từ kinh doanh nghiệp vụ, không chạy đua theo doanh số.

Đại hội đồng cổ đông VINARE: Đưa lợi nhuận vượt mốc 500 tỷ đồng, giữ đà tăng trưởng 5 năm tới
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Về đầu tư, VINARE tập trung nâng cao chất lượng danh mục, đảm bảo an toàn, thanh khoản và hiệu quả; giám sát chặt chẽ hoạt động ủy thác đầu tư và thường xuyên đánh giá rủi ro các khoản mục.

Về phương án phân phối lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế riêng lẻ năm 2024 đạt 388,9 tỷ đồng, sau khi trích lập các quỹ và chi trả cổ tức, lợi nhuận lũy kế còn lại 710,8 tỷ đồng. Công ty dự kiến chi trả cổ tức năm 2024 với tỷ lệ 10% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu.

Bão Yagi khó cản đà tăng trưởng của VINARE

Nhìn lại giai đoạn 2020 - 2024, Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị của Tổng công ty thông qua mục tiêu tăng trưởng doanh thu tập trung vào các nghiệp vụ cốt lõi và chỉ triển khai nghiệp vụ bảo hiểm liên kết với các tổ chức tín dụng khi đảm bảo có lãi.

Kết quả, Tổng công ty đạt mức tăng trưởng bình quân của các nghiệp vụ cốt lõi là 11,8%, vượt kế hoạch đề ra là 9%. Về vốn điều lệ, tính đến cuối năm 2024, vốn điều lệ của VINARE đạt 1.823,9 tỷ đồng. Tổng công ty tiếp tục đề xuất Đại hội đồng cổ đông thông qua việc tăng vốn thêm 10%, tương đương với việc tăng vốn điều lệ lên 2.006 tỷ đồng, hoàn thành mục tiêu đạt 2.000 tỷ đồng.

Đại hội đồng cổ đông VINARE
Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 của Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia VINARE. Ảnh: Ánh Tuyết.

Nhìn lại dấu ấn năm 2024, theo Chủ tịch VINARE Nguyễn Anh Tuấn, Hội đồng Quản trị đã chỉ đạo thực hiện nhiều nội dung được Đại hội đồng cổ đông giao, bao gồm việc chi trả cổ tức bằng tiền với tỷ lệ 10% và chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 10%, đồng thời đăng ký tăng vốn với Bộ Tài chính và sửa đổi điều lệ.

Cùng với đó, dù ngành bảo hiểm nói chung và VINARE đối mặt với những thách thức từ bão Yagi, nhưng Tổng công ty linh hoạt điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận trước thuế 2024 theo nguyên tắc đảm bảo hoàn thành kế hoạch kinh doanh 5 năm 2020 - 2024 đã được đại hội thông qua.

Lợi nhuận có thể vượt mốc 700 tỷ đồng nếu không ảnh hưởng bởi bão Yagi

"Vào tháng 9/2024, thị trường hứng chịu tổn thất nặng nề từ cơn bão Yagi – tổn thất thiên tai lớn nhất từ trước đến nay ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm Việt Nam, với số ước tổn thất lên đến hơn 400 triệu USD, tương đương nửa phí bảo hiểm nghiệp vụ tài sản trong năm tài chính. Lợi nhuận trước thuế VINARE đạt 465,3 tỷ đồng, bằng 100,5% kế hoạch, phản ánh nỗ lực đáng kể của Tổng công ty. Nhiều ý kiến cho rằng nếu không có bão Yagi, lợi nhuận có thể đạt hơn 700 tỷ đồng. Ngoài trừ bão Yagi, không có tổn thất nào đáng kể" - ông Dũng chia sẻ.

Về vấn đề này, theo Tổng Giám đốc VINARE Mai Xuân Dũng, ngay sau bão, lãnh đạo VINARE và lãnh đạo một số doanh nghiệp bảo hiểm đối tác đã tới hiện trường, phối hợp với các khách hàng mua bảo hiểm và các đơn vị giám định động viên, chỉ đạo công tác giám định để sớm khắc phục các thiệt hại do bão gây ra.

VINARE kịp thời cập nhật số liệu ước bồi thường các tổn thất do bão số 3 gây ra và phản ánh kết quả trên báo cáo tài chính quý III/2024.

Tính chung cả nền kinh tế, bão Yagi gây thiệt hại lên tới hơn 81.000 tỷ đồng. Mặc dù tổng bồi thường thuộc trách nhiệm nhận tái bảo hiểm của VINARE do bão Yagi gây ra là 570 tỷ đồng và bồi thường thuộc trách nhiệm giữ lại là 288 tỷ đồng và được ghi nhận đầy đủ phản ánh trên báo cáo tài chính nhưng Tổng công ty đạt được lợi nhuận trước thuế hơn 465 tỷ đồng.

Cũng theo ông Dũng, trong tổng số 7 tổn thất lớn, bão Yagi gây ra 5 vụ trong số đó, chủ yếu ảnh hưởng đến nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và kỹ thuật do các đối tượng bảo hiểm cố định. Trong khi đó, bảo hiểm hàng hải chỉ ghi nhận tổn thất nhỏ, khoảng 16 tỷ đồng.

Điểm đáng chú ý, bảo hiểm thân tàu biển năm 2024 đã đạt được điểm hòa vốn dù chưa thể xác định liệu tổn thất từ bảo hiểm thân tàu biển thời gian tới có tăng hay không và việc cạnh tranh cắt giảm phí liệu có tiếp diễn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Doanh nghiệp hiến kế, tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng GDP nửa cuối năm

Doanh nghiệp hiến kế, tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng GDP nửa cuối năm

(TBTCO) - Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương sáng 4/7, cộng đồng doanh nghiệp đã đề xuất nhiều giải pháp hỗ trợ tăng trưởng, trong đó nổi bật là cơ chế sandbox liên kết với doanh nghiệp FDI và mô hình ngân hàng số chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 15,140
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 15,030
Trang sức 99.99 14,340 15,040
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 06/07/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/07/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80