Đại hội đồng cổ đông VINARE: Đưa lợi nhuận vượt mốc 500 tỷ đồng, giữ đà tăng trưởng 5 năm tới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia VINARE đặt mục tiêu giữ đà tăng doanh thu và lợi nhuận 8%, đưa lợi nhuận trước thuế vượt 500 tỷ đồng, cao nhất trong lịch sử. Tổng công ty cũng cam kết tăng trưởng bền vững, lựa chọn rủi ro thận trọng, đảm bảo có lãi từ kinh doanh nghiệp vụ, không chạy đua theo doanh số.
aa
VINARE – 30 năm đồng hành và phát triển cùng thị trường bảo hiểm Việt Nam VINARE cam kết tiếp tục “Gắn kết sức mạnh, cộng hưởng giá trị” với cổ đông, đối tác, khách hàng Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Ngày 28/4, Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE - Mã Ck: VNR) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025.

Đảm bảo lãi từ kinh doanh, không chạy đua theo doanh số

Đại hội thông qua nhiều nội dung quan trọng như điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2024, báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024 và kế hoạch kinh doanh năm 2025, định hướng mục tiêu kế hoạch giai đoạn 2025 - 2029, phương án phát hành cổ phiếu trả cổ tức năm 2024, bầu thành viên Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Trình bày phương hướng nhiệm vụ, hoạt động kinh doanh năm 2025 tại đại hội, lãnh đạo VINARE cho biết, thị trường bảo hiểm Việt Nam có cơ hội phát triển nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc, chiến lược phát triển mới và khuôn khổ pháp lý hoàn thiện.

Dự kiến tổng doanh thu phí bảo hiểm sẽ tăng nhẹ so với năm 2024, trong đó lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 10% và bảo hiểm nhân thọ tăng 3%. Tuy nhiên, thị trường đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt trong nghiệp vụ bảo hiểm tài sản sau khi áp dụng Nghị định 67/2023/NĐ-CP, khiến phí bảo hiểm bắt buộc đã giảm đáng kể so với trước đây. Vì vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm gặp khó khăn trong việc đàm phán và duy trì mức phí, đồng thời hạn chế cơ hội tăng trưởng.

Thêm vào đó, thiên tai ngày càng nghiêm trọng và xu hướng giảm giá trên thị trường tái bảo hiểm quốc tế cũng sẽ tác động nhiều chiều đến hoạt động kinh doanh.

Phấn đấu doanh thu tăng trưởng đều đặn 8% hàng năm

Kế hoạch kinh doanh năm 2025 của VINARE đặt mục tiêu tổng doanh thu 3.594 tỷ đồng, tăng 8% so với năm trước; lợi nhuận trước thuế tăng 8,1%, đạt 503 tỷ đồng và vượt mức đỉnh lợi nhuận từng đạt được năm 2023 (499,9 tỷ đồng). Từ 2026 - 2029, phấn đấu tăng trưởng tổng doanh thu 8%/năm, hàng năm căn cứ tình hình thực tế để rà soát, báo cáo Đại hội đồng cổ đông.

Trong năm 2025, VINARE đặt trọng tâm vào việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh, triển khai đề án tái cấu trúc, phát triển sản phẩm dịch vụ mới, tăng cường năng lực tái bảo hiểm, chuỗi cung ứng giá trị cho khách hàng, quản lý chặt chẽ chi phí, rủi ro và nâng hạng tín nhiệm quốc tế.

Theo đó, VINARE tiếp tục chủ trương tăng cường quản trị rủi ro, mở rộng thị trường tái bảo hiểm, nâng cao năng lực cung cấp giá trị gia tăng như quản lý rủi ro, đào tạo, phát triển sản phẩm mới.

Trong lĩnh vực kinh doanh tái bảo hiểm, VINARE tuân thủ kỷ luật khai thác, lựa chọn rủi ro thận trọng, đảm bảo có lãi từ kinh doanh nghiệp vụ, không chạy đua theo doanh số.

Đại hội đồng cổ đông VINARE: Đưa lợi nhuận vượt mốc 500 tỷ đồng, giữ đà tăng trưởng 5 năm tới
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Về đầu tư, VINARE tập trung nâng cao chất lượng danh mục, đảm bảo an toàn, thanh khoản và hiệu quả; giám sát chặt chẽ hoạt động ủy thác đầu tư và thường xuyên đánh giá rủi ro các khoản mục.

Về phương án phân phối lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế riêng lẻ năm 2024 đạt 388,9 tỷ đồng, sau khi trích lập các quỹ và chi trả cổ tức, lợi nhuận lũy kế còn lại 710,8 tỷ đồng. Công ty dự kiến chi trả cổ tức năm 2024 với tỷ lệ 10% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu.

Bão Yagi khó cản đà tăng trưởng của VINARE

Nhìn lại giai đoạn 2020 - 2024, Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị của Tổng công ty thông qua mục tiêu tăng trưởng doanh thu tập trung vào các nghiệp vụ cốt lõi và chỉ triển khai nghiệp vụ bảo hiểm liên kết với các tổ chức tín dụng khi đảm bảo có lãi.

Kết quả, Tổng công ty đạt mức tăng trưởng bình quân của các nghiệp vụ cốt lõi là 11,8%, vượt kế hoạch đề ra là 9%. Về vốn điều lệ, tính đến cuối năm 2024, vốn điều lệ của VINARE đạt 1.823,9 tỷ đồng. Tổng công ty tiếp tục đề xuất Đại hội đồng cổ đông thông qua việc tăng vốn thêm 10%, tương đương với việc tăng vốn điều lệ lên 2.006 tỷ đồng, hoàn thành mục tiêu đạt 2.000 tỷ đồng.

Đại hội đồng cổ đông VINARE
Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 của Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia VINARE. Ảnh: Ánh Tuyết.

Nhìn lại dấu ấn năm 2024, theo Chủ tịch VINARE Nguyễn Anh Tuấn, Hội đồng Quản trị đã chỉ đạo thực hiện nhiều nội dung được Đại hội đồng cổ đông giao, bao gồm việc chi trả cổ tức bằng tiền với tỷ lệ 10% và chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 10%, đồng thời đăng ký tăng vốn với Bộ Tài chính và sửa đổi điều lệ.

Cùng với đó, dù ngành bảo hiểm nói chung và VINARE đối mặt với những thách thức từ bão Yagi, nhưng Tổng công ty linh hoạt điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận trước thuế 2024 theo nguyên tắc đảm bảo hoàn thành kế hoạch kinh doanh 5 năm 2020 - 2024 đã được đại hội thông qua.

Lợi nhuận có thể vượt mốc 700 tỷ đồng nếu không ảnh hưởng bởi bão Yagi

"Vào tháng 9/2024, thị trường hứng chịu tổn thất nặng nề từ cơn bão Yagi – tổn thất thiên tai lớn nhất từ trước đến nay ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm Việt Nam, với số ước tổn thất lên đến hơn 400 triệu USD, tương đương nửa phí bảo hiểm nghiệp vụ tài sản trong năm tài chính. Lợi nhuận trước thuế VINARE đạt 465,3 tỷ đồng, bằng 100,5% kế hoạch, phản ánh nỗ lực đáng kể của Tổng công ty. Nhiều ý kiến cho rằng nếu không có bão Yagi, lợi nhuận có thể đạt hơn 700 tỷ đồng. Ngoài trừ bão Yagi, không có tổn thất nào đáng kể" - ông Dũng chia sẻ.

Về vấn đề này, theo Tổng Giám đốc VINARE Mai Xuân Dũng, ngay sau bão, lãnh đạo VINARE và lãnh đạo một số doanh nghiệp bảo hiểm đối tác đã tới hiện trường, phối hợp với các khách hàng mua bảo hiểm và các đơn vị giám định động viên, chỉ đạo công tác giám định để sớm khắc phục các thiệt hại do bão gây ra.

VINARE kịp thời cập nhật số liệu ước bồi thường các tổn thất do bão số 3 gây ra và phản ánh kết quả trên báo cáo tài chính quý III/2024.

Tính chung cả nền kinh tế, bão Yagi gây thiệt hại lên tới hơn 81.000 tỷ đồng. Mặc dù tổng bồi thường thuộc trách nhiệm nhận tái bảo hiểm của VINARE do bão Yagi gây ra là 570 tỷ đồng và bồi thường thuộc trách nhiệm giữ lại là 288 tỷ đồng và được ghi nhận đầy đủ phản ánh trên báo cáo tài chính nhưng Tổng công ty đạt được lợi nhuận trước thuế hơn 465 tỷ đồng.

Cũng theo ông Dũng, trong tổng số 7 tổn thất lớn, bão Yagi gây ra 5 vụ trong số đó, chủ yếu ảnh hưởng đến nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và kỹ thuật do các đối tượng bảo hiểm cố định. Trong khi đó, bảo hiểm hàng hải chỉ ghi nhận tổn thất nhỏ, khoảng 16 tỷ đồng.

Điểm đáng chú ý, bảo hiểm thân tàu biển năm 2024 đã đạt được điểm hòa vốn dù chưa thể xác định liệu tổn thất từ bảo hiểm thân tàu biển thời gian tới có tăng hay không và việc cạnh tranh cắt giảm phí liệu có tiếp diễn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80