Doanh nghiệp bảo hiểm chung tay hỗ trợ khách hàng vượt bão lũ

Hồng Chi
(TBTCO) - Cơn bão số 10 và số 11 đi qua để lại hậu quả nặng nề và thiệt hại rất lớn về người và tài sản tại nhiều địa phương. Các doanh nghiệp bảo hiểm đã và đang thể hiện sự nỗ lực cao nhất nhằm hỗ trợ khách hàng nhanh chóng vượt qua khó khăn, đồng thời phối hợp với các cơ quan, tổ chức triển khai các chương trình hỗ trợ nhân đạo, giúp người dân vùng bão lũ khắc phục thiệt hại, ổn định cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
aa

Thiệt hại tập trung ở bảo hiểm tài sản kỹ thuật và bảo hiểm xe cơ giới

Báo cáo số liệu từ cơ quan quản lý về bảo hiểm cho thấy, thiệt hại do bão số 10 và số 11 gây ra tạm tính khoảng 1.674 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở bảo hiểm tài sản kỹ thuật và bảo hiểm xe cơ giới.

Theo đó, tính đến ngày 8/10/2025, Bảo hiểm Bảo Việt đã ghi nhận tổng cộng 372 vụ tổn thất, ước tính bồi thường thiệt hại 119 tỷ đồng. Các khu vực ghi nhận số lượng tổn thất lớn bao gồm Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa bị thiệt hại do bão; Hà Nội, Thái Nguyên, Lào Cai, Cao Bằng, Bắc Ninh bị ảnh hưởng bởi ngập sau bão.

Về nhóm nghiệp vụ, Bảo hiểm Bảo Việt ghi nhận bảo hiểm tài sản, công trình xây dựng và bảo hiểm xe cơ giới là loại hình chịu tác động nặng nề nhất, các loại hình khác như bảo hiểm hàng hải ghi nhận mức độ ảnh hưởng thấp hơn.

Doanh nghiệp bảo hiểm chung tay hỗ trợ khách hàng vượt bão lũ
Bão số 10, 11 gây hậu quả nặng nề và thiệt hại lớn về tài sản. Ảnh: Phan Hà

Ông Nguyễn Việt Anh - Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm Bảo Việt cho biết: “Trước những thiệt hại do bão lũ gây ra, chúng tôi đã triển khai mọi biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi khách hàng, đồng thời hỗ trợ kịp thời các khu vực chịu ảnh hưởng. Chúng tôi cam kết hoạt động chi trả của Bảo hiểm Bảo Việt được triển khai khẩn trương, minh bạch, đảm bảo khách hàng sớm khắc phục thiệt hại, ổn định tài chính và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh”.

Theo Bảo hiểm BIC, công ty đã ghi nhận tổng cộng 225 vụ tổn thất do bão số 10, trong đó hơn 140 vụ thuộc bảo hiểm xe cơ giới và hơn 80 vụ thuộc bảo hiểm tài sản - kỹ thuật. Riêng bão số 11 đã gây ra 151 vụ tổn thất, bao gồm 138 vụ thuộc bảo hiểm xe cơ giới và 13 vụ thuộc bảo hiểm tài sản - kỹ thuật. Các vụ tổn thất do bão số 11 vẫn đang tiếp tục được ghi nhận và xử lý. Tổng thiệt hại do 2 cơn bão ghi nhận tại Bảo hiểm BIC đến thời điểm hiện tại đã vượt hơn 100 tỷ đồng.

Đối với Bảo hiểm VBI, chỉ trong vòng chưa đầy một tháng (từ ngày 11/9 đến ngày 10/10/2025), công ty đã tiếp nhận hơn 550 vụ tổn thất từ khách hàng do ảnh hưởng từ bão, ước tính chi trả hơn 250 tỷ đồng. Trong đó, bảo hiểm tài sản, kỹ thuật và xe cơ giới là những nghiệp vụ ghi nhận thiệt hại nhiều nhất.

Bảo hiểm PVI cho biết, đã tiếp nhận 187 vụ tổn thất về xe cơ giới, ước tính thiệt hại sơ bộ khoảng 3,7 tỷ đồng, hầu hết do xe ô tô bị ngập nước trong quá trình di chuyển, dừng đỗ hoặc bị các vật thể rơi vào.

Với nghiệp vụ tài sản - kỹ thuật, Bảo hiểm PVI đã ghi nhận 150 tổn thất và dự kiến tiếp tục ghi nhận các hồ sơ phát sinh từ phía các nhà đồng bảo hiểm, bao gồm thiệt hại nhà xưởng, máy móc, hàng hóa và gián đoạn kinh doanh… với dự phòng bồi thường gần 850 tỷ đồng.

Nhanh chóng hỗ trợ khách hàng

Đại diện Bảo hiểm Bảo Việt cho biết, ngay khi nhận được thông tin về bão, công ty đã luôn duy trì trạng thái sẵn sàng 24/7, chủ động triển khai các đoàn công tác tới vùng chịu ảnh hưởng, phối hợp cùng khách hàng kiểm soát rủi ro, giảm thiểu tổn thất, nhằm bảo vệ quyền lợi khách hàng trong mọi hoàn cảnh.

Không chỉ hỗ trợ khách hàng khắc phục thiệt hại, các doanh nghiệp bảo hiểm còn phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để triển khai các chương trình hỗ trợ nhân đạo, giúp người dân vùng bão sớm ổn định lại cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là minh chứng rõ nét cho tinh thần đồng hành và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng trong những hoàn cảnh thiên tai khó khăn.

“Bảo hiểm BIC đã kích hoạt các phương án ứng phó khẩn cấp, huy động lực lượng cán bộ tại các đơn vị nhanh chóng xuống hiện trường để hỗ trợ khách hàng. Với tinh thần trách nhiệm cao và sự chủ động trong công tác phục vụ, đội ngũ cán bộ BIC đã tiếp cận hiện trường, phối hợp với khách hàng và cơ quan chức năng để ghi nhận tổn thất, thu thập hồ sơ, thực hiện giám định ban đầu và hướng dẫn khách hàng hoàn thiện thủ tục bồi thường” - đại diện Bảo hiểm BIC chia sẻ.

Theo đại diện Bảo hiểm VBI, công tác cứu trợ ban đầu đóng vai trò quan trọng để giảm thiểu thiệt hại và tổn thất cho khách hàng. Theo đó, tổng đài ghi nhận tổn thất 24/7 của Bảo hiểm VBI đã liên tục hoạt động để cập nhật kịp thời và chủ động hướng dẫn khách hàng các phương án di dời, cứu vớt tài sản. Tại các địa bàn có thể tiếp cận, mặc dù nước lũ chưa rút, các cán bộ VBI đã có mặt tại hiện trường để sẵn sàng ứng cứu, hỗ trợ khách hàng.

Với kinh nghiệm xử lý các vụ tổn thất phức tạp từ bão Yagi trước đó, Bảo hiểm PVI đã kích hoạt kế hoạch phản ứng nhanh ngay khi bão còn ngoài khơi. Công ty đã bố trí đường dây nóng trực 24/7, đồng thời tăng cường tối đa số lượng giám định viên trực để có thể nhanh chóng tiếp cận hiện trường, hướng dẫn, hỗ trợ khách hàng các phương án phù hợp để đề phòng, hạn chế tổn thất cũng như phối hợp cùng lực lượng cứu hộ đưa xe ra khỏi vùng ngập đến các đơn vị sửa chữa uy tín, đảm bảo chất lượng.

Đồng hành cùng khách hàng vượt qua khó khăn

Chia sẻ với những mất mát, khó khăn mà đồng bào đang phải gánh chịu, Bảo Việt đã nhanh chóng triển khai các hoạt động hỗ trợ khẩn cấp và an sinh xã hội, phát huy tinh thần “lá lành đùm lá rách” và hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, Bảo Việt đã trích Quỹ An sinh xã hội 600 triệu đồng để ủng hộ đồng bào chịu ảnh hưởng nặng nề do các cơn bão gây ra. Số tiền được chuyển tới Mặt trận Tổ quốc các tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Tuyên Quang và Lào Cai, mỗi tỉnh 100 triệu đồng, nhằm hỗ trợ người dân khắc phục khó khăn ban đầu, ổn định nơi ở và sản xuất.

Song song với công tác nghiệp vụ, Bảo hiểm VBI cũng phát động phong trào, kêu gọi sự chung tay của toàn thể cán bộ, nhân viên để kịp thời hỗ trợ người dân tại các địa phương bị ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai, với tổng giá trị ủng hộ gần 500 triệu đồng.

Đại diện Bảo hiểm VBI cho biết, việc đồng hành cùng cộng đồng, khách hàng trong những thời điểm khó khăn vừa là sứ mệnh của doanh nghiệp, vừa là triết lý “kinh doanh gắn liền với trách nhiệm xã hội” của VBI trong suốt hành trình gần 17 năm có mặt trên thị trường.

Hỏi, đáp bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới

Hỏi: Công tác lập dự toán, kế toán, quyết toán của Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới quy định như thế nào?

Trả lời: Điều 21, Nghị định 67/2023/NĐ-CP nêu rõ:

1. Công tác lập dự toán:

a) Trước ngày 15/12 hàng năm, Ban điều hành Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới lập dự toán thu, chi của Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới bao gồm các nội dung sau: Tình hình thu, chi của Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới năm hiện tại. Kế hoạch thu, chi của Quỹ bảo hiểm xe cơ giới năm kế tiếp.

b) Ban điều hành Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới báo cáo dự toán thu, chi của Quỹ bảo hiểm xe cơ giới để Hội đồng quản lý Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới phê duyệt. Dự toán thu, chi của Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới phải được thông báo cho Bộ Tài chính và các doanh nghiệp bảo hiểm ngay sau khi phê duyệt.

c) Các kế hoạch chi theo dự toán trong năm, trừ các nội dung chi tại điểm e, điểm g, điểm h khoản 1 Điều 17 Nghị định này, đến ngày 31/12 hàng năm chưa thực hiện hoặc chưa chi hết được tiếp tục thực hiện vào năm sau.

d) Trường hợp cần thiết, Hội đồng quản lý Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới có thể điều chỉnh dự toán thu chi đã được thông qua đầu năm và thông báo cho Bộ Tài chính và các doanh nghiệp bảo hiểm.

2. Kế toán Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Ban điều hành Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới phải:

a) Tổ chức công tác kế toán, thống kê theo đúng quy định của Luật Kế toán, Luật Thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành.

b) Chấp hành các quy định về chứng từ kế toán; hạch toán kế toán toàn bộ các khoản thu, chi của Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới.

c) Mở sổ kế toán ghi chép, hệ thống và lưu trữ toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới...

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Hồng Chi

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cập nhật: 06/04/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/04/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80