Bảo hiểm tăng tốc bồi thường, hỗ trợ khách hàng vượt qua thiên tai

Hồng Chi
(TBTCO) - Liên tiếp các đợt bão lớn và mưa lũ nghiêm trọng trong những tháng cuối năm 2025 đã và đang gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản tại nhiều địa phương. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm đã kích hoạt chế độ ứng phó khẩn cấp, đẩy nhanh tiến độ giám định, tạm ứng và chi trả bồi thường…, thể hiện vai trò “tấm đệm tài chính” quan trọng giúp người dân và doanh nghiệp sớm ổn định cuộc sống, sản xuất sau thiên tai.
aa

Tổng thiệt hại ước tính hàng nghìn tỷ đồng

Theo đại diện Bảo hiểm BIC, ngay sau khi bão số 13 đổ bộ, công ty đã ghi nhận hơn 120 vụ tổn thất bảo hiểm, với tổng thiệt hại ước tính hơn 60 tỷ đồng. Các tổn thất tập trung chủ yếu vào hai nghiệp vụ là bảo hiểm tài sản - kỹ thuật và bảo hiểm xe cơ giới.

Trước đó, trong cơn bão số 10, Bảo hiểm BIC ghi nhận tổng cộng 225 vụ tổn thất, trong đó hơn 140 vụ thuộc bảo hiểm xe cơ giới và hơn 80 vụ thuộc bảo hiểm tài sản - kỹ thuật. Riêng bão số 11 đã gây ra 151 vụ tổn thất, bao gồm 138 vụ thuộc bảo hiểm xe cơ giới và 13 vụ thuộc bảo hiểm tài sản - kỹ thuật. Tổng thiệt hại tạm tính do 2 cơn bão đã vượt hơn 100 tỷ đồng.

Một tên tuổi khác là Bảo hiểm PTI - doanh nghiệp này cũng đã tiếp nhận 174 trường hợp thiệt hại bởi bão số 13 ở cả hai mảng bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm thương mại. Theo đó, ở mảng bảo hiểm xe cơ giới, PTI thống kê 77 vụ tổn thất, tổng giá trị thiệt hại ước tính hàng tỷ đồng.

Bảo hiểm tăng tốc bồi thường, hỗ trợ khách hàng vượt qua thiên tai
Mưa lũ gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. Ảnh tư liệu

Theo số liệu của Bảo hiểm PVI, thiệt hại do hai cơn bão số 10 và số 11 gây ra tập trung chủ yếu ở các nghiệp vụ xe cơ giới và tài sản - kỹ thuật. Cụ thể, riêng cơn bão số 11, Bảo hiểm PVI xác nhận 283 vụ tổn thất liên quan đến xe cơ giới, ước chi phí bồi thường gần 20 tỷ đồng. Về nghiệp vụ bảo hiểm tài sản - kỹ thuật, ghi nhận 37 vụ với chi phí bồi thường khoảng 30 tỷ đồng. Trước đó, cơn bão số 10 ước tính có 179 vụ liên quan đến tài sản kỹ thuật, số tiền bồi thường tổn thất là 985 tỷ đồng…

Theo ghi nhận của Bảo hiểm VBI, công ty đã tiếp nhận hơn 550 vụ tổn thất từ khách hàng do ảnh hưởng của ba cơn bão số 9, số 10 và số 11, ước tính chi trả hơn 250 tỷ đồng. Trong đó, bảo hiểm tài sản, kỹ thuật và xe cơ giới là những nghiệp vụ ghi nhận thiệt hại nhiều nhất. Riêng với bão số 11, Bảo hiểm VBI đã ghi nhận gần 150 vụ tổn thất, với ước tính giá trị bồi thường gần 30 tỷ đồng.

Báo cáo số liệu từ cơ quan quản lý về bảo hiểm cho thấy, bão số 10 và số 11 đã gây ra 3.748 vụ thiệt hại, với tổng ước tính tổn thất gần 1.674 tỷ đồng. Trong đó, nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.081 vụ, thiệt hại gần 1.593 tỷ đồng; bảo hiểm xe cơ giới ghi nhận 2.653 vụ, bồi thường khoảng 76 tỷ đồng; bảo hiểm sức khỏe 2 vụ, bồi thường 245 triệu đồng….

Tăng tốc xử lý, rút ngắn quy trình bồi thường

Đại diện Bảo hiểm VBI cho biết, xác định công tác cứu trợ ban đầu đóng vai trò quan trọng để giảm thiểu thiệt hại và tổn thất cho khách hàng trong bão, lũ, tổng đài ghi nhận tổn thất 24/7 của VBI đã liên tục hoạt động để cập nhật kịp thời và chủ động hướng dẫn khách hàng các phương án di dời, cứu vớt tài sản. Tại các địa bàn có thể tiếp cận, các cán bộ VBI đã có mặt tại hiện trường để sẵn sàng ứng cứu, hỗ trợ khách hàng. Với phương châm hoạt động “lấy khách hàng làm trọng tâm”, Bảo hiểm VBI đã có những hành động nhanh chóng, kịp thời để hỗ trợ khách hàng giảm thiểu thiệt hại tài chính, sớm ổn định đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

“Cán bộ giám định bồi thường của Bảo hiểm BIC đã được cử ngay đến hiện trường, nhanh chóng tiếp cận các địa bàn bị tổn thất nặng, kịp thời ghi nhận thông tin thiệt hại về người và tài sản, đồng thời hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn khách hàng xử lý ban đầu nhằm giảm thiểu thiệt hại” - đại diện Bảo hiểm BIC chia sẻ.

Với kinh nghiệm xử lý các vụ tổn thất phức tạp từ các cơn bão trước đó, Bảo hiểm PVI đã kích hoạt kế hoạch phản ứng nhanh ngay khi bão còn ngoài khơi, huy động đội ngũ nhân sự chuyên trách, chuẩn bị các kịch bản hỗ trợ khách hàng trong vùng ảnh hưởng của bão để có thể tiến hành ngay các bước đề phòng, hạn chế thiệt hại và hỗ trợ thông tin kịp thời. Quy trình bồi thường khẩn cấp do thiên tai được kích hoạt ngay, giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ từ 30 - 40%, một số khâu giảm tới 80 - 90%.

Đại diện Bảo hiểm PTI cho biết, trong bối cảnh thiên tai xảy ra ngày càng thường xuyên và khó lường, PTI luôn coi việc hỗ trợ khách hàng khắc phục thiệt hại nhanh chóng là trách nhiệm xã hội và cam kết cốt lõi của doanh nghiệp bảo hiểm.

Về công tác xử lý bồi thường, Bảo hiểm PTI đã kích hoạt quy trình phản ứng nhanh, phối hợp cùng các chi nhánh, đại lý và đội ngũ giám định viên tại hiện trường để thu thập hồ sơ, xác định mức độ thiệt hại và hỗ trợ khách hàng kịp thời. Tính đến nay, đã có 19 vụ hoàn tất giám định, 56 vụ đang trong quá trình xử lý, và 2 vụ được bảo lãnh chi trả trước nhằm giúp khách hàng sớm ổn định đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tập trung hỗ trợ khách hàng vùng lũ miền Trung - Tây Nguyên

Sau bão là đợt mưa lũ lịch sử tại miền Trung - Tây Nguyên, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. Theo đó, cơ quan quản lý về bảo hiểm đã có công văn gửi Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm, yêu cầu tập trung triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả, hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh và ổn định đời sống nhân dân.

Theo đó, yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm cử ngay giám định viên xuống hiện trường, làm việc trực tiếp với khách hàng để thu thập và hoàn thiện hồ sơ, giải quyết bồi thường. Khi xác định thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, các doanh nghiệp phải thực hiện bồi thường nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ theo quy định. Trước mắt, cần khẩn trương tạm ứng bồi thường cho khách hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm đã giao kết, nhằm hỗ trợ khách hàng sớm vượt qua khó khăn.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý về bảo hiểm cũng đề nghị Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai bồi thường nhân đạo theo quy chế nội bộ và quy định pháp luật, góp phần giảm bớt thiệt hại và ổn định đời sống khách hàng.

Hồng Chi

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,390 ▲100K 13,990
Trang sức 99.99 13,400 ▲100K 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1238K 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1238K 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cập nhật: 03/08/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17876 18150 18726
CAD 18175 18451 19068
CHF 31831 32212 32850
CNY 0 3848 3941
EUR 29641 29863 30938
GBP 34538 34930 35861
HKD 0 3219 3421
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15106 15691
SGD 19944 20227 20796
THB 703 766 819
USD (1,2) 26004 0 0
USD (5,10,20) 26045 0 0
USD (50,100) 26074 26083 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,707 29,731 31,134
JPY 163.16 163.45 173.29
GBP 34,747 34,841 36,046
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,375 18,434 19,112
CHF 32,090 32,190 33,129
SGD 20,074 20,136 20,933
CNY - 3,818 3,964
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.93 17.66 19.21
THB 752.08 761.37 814.6
NZD 15,112 15,252 15,707
SEK - 2,712 2,807
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,999.73 - 6,770.89
TWD 733.63 - 888.66
SAR - 6,881.18 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26460
AUD 18085 18185 19110
CAD 18364 18464 19478
CHF 32102 32132 33723
CNY 3830.5 3855.5 3991
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29835 29865 31590
GBP 34866 34916 36674
HKD 0 3355 0
JPY 164.2 164.7 175.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15234 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20111 20241 20973
THB 0 732.9 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80