VINARE – 30 năm đồng hành và phát triển cùng thị trường bảo hiểm Việt Nam

(TBTCO) - Kể từ khi thành lập cho đến nay, VINARE đã trải qua một hành trình 30 năm với nhiều thử thách nhưng cũng không kém phần vinh quang. Trong suốt thời gian đó, VINARE luôn khẳng định vị thế tiên phong của mình, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam. Với sứ mệnh hỗ trợ thị trường bảo hiểm trong nước và kết nối với thị trường tái bảo hiểm quốc tế, VINARE đã góp phần không nhỏ vào việc ổn định và phát triển ngành bảo hiểm tại Việt Nam.
aa
VINARE – 30 năm đồng hành và phát triển cùng thị trường bảo hiểm Việt Nam
Công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1994 theo quyết định số 920TC/QĐ/TCCB ngày 27/9/1994 của Bộ Tài chính.

Hành trình 30 năm – một chặng đường ý nghĩa

Ra đời trong bối cảnh thị trường bảo hiểm Việt Nam còn đang non trẻ, VINARE đã vươn mình trở thành một thương hiệu uy tín qua những cột mốc phát triển mang tính lịch sử, đồng hành cùng sự chuyển biến liên tục của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập toàn cầu.

Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, sự đồng hành của các cổ đông, sự hợp tác quý báu từ các đối tác, khách hàng trong và ngoài nước, cùng với nỗ lực không ngừng nghỉ của các thế hệ lãnh đạo, cán bộ nhân viên, VINARE đã liên tục đạt được nhiều thành tích trong hoạt động kinh doanh và tạo dựng vị thế vững mạnh trên thị trường.

Trong lĩnh vực kinh doanh tái bảo hiểm trong 30 năm qua, doanh thu phí nhận tái bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 14,7%/năm, doanh thu phí giữ lại tăng trưởng bình quân 21,6%/năm. Bình quân lợi nhuận trước thuế của Tổng công ty tăng trưởng 20,9%/năm. Tổng tài sản tại thời điểm cuối năm 2023 đạt 7.713 tỷ đồng; Vốn điều lệ 1.658 tỷ đồng; Vốn chủ sở hữu 3.446 tỷ đồng. Giá trị vốn hóa thị trường thời điểm 29/12/2023 đạt 4.228 tỷ đồng.

Trải qua 30 năm phát triển, VINARE đã trở thành điểm tựa vững vàng cho nhiều công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong nước, cung cấp các giải pháp tư vấn và năng lực tái bảo hiểm, giúp họ quản lý rủi ro một cách an toàn và hiệu quả. VINARE có thị phần trong hầu hết các hợp đồng tái bảo hiểm của thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Trong con mắt bạn bè quốc tế, VINARE là doanh nghiệp hoạt động bài bản, chuyên nghiệp, có tiếng nói nhất định trong thị trường bảo hiểm. VINARE luôn làm tốt vai trò là một cầu nối quan trọng trong quan hệ với các tổ chức quốc tế, là đầu mối chia sẻ thông tin trung lập, đầy đủ, khách quan cho toàn thị trường bảo hiểm.

VINARE cũng là một trong hai doanh nghiệp bảo hiểm/tái bảo hiểm đầu tiên trên thị trường bảo hiểm Việt Nam thực hiện việc xếp hạng năng lực tài chính với tổ chức xếp hạng quốc tế AM Best và liên tục duy trì mức xếp hạng B++, phản ánh tình hình tài chính vững mạnh và kết quả hoạt động kinh doanh tốt của VINARE.

VINARE – 30 năm đồng hành và phát triển cùng thị trường bảo hiểm Việt Nam
Tập thể VINARE hiện tại.

Tham gia tích cực vào chương trình bảo hiểm của Chính phủ, đóng góp vào sự ổn định của thị trường bảo hiểm

VINARE tự hào với năng lực tài chính vững mạnh và khả năng quản lý rủi ro hiệu quả, qua đó đóng góp vào sự ổn định và phát triển của thị trường bảo hiểm trong nước, củng cố vững chắc vị thế của VINARE trong ngành bảo hiểm, tạo tiền đề quan trọng để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược phía trước.

VINARE đồng thời có nhiều đóng góp thông qua việc kết hợp với các nhà tái bảo hiểm quốc tế, các công ty bảo hiểm gốc tham gia vào các chương trình bảo hiểm của Chính phủ. VINARE là nhà nhận tái bảo hiểm chính trong các chương trình của Chính phủ như: Bảo hiểm Thí điểm Nông nghiệp theo Quyết định 315/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2013, Bảo hiểm Tàu cá theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản, đồng thời tham gia đóng góp vào các chương trình/giải pháp phát triển của thị trường như bảo hiểm thiên tai, bảo hiểm tài sản công, các chương trình bảo hiểm vi mô …, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển.

Với những thành tích xuất sắc trong hoạt động kinh doanh và những đóng góp cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trong hành trình 30 năm phát triển, VINARE đã vinh dự được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước, Chính phủ và Bộ Tài chính, trong đó có các Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba, Huân chương Độc lập hạng Ba và nhiều danh hiệu cao quý khác.

30 năm và hành trình vươn ra “biển lớn”

Nhìn về tương lai, dù kinh tế - xã hội Việt Nam và thế giới còn đối mặt nhiều thách thức, VINARE vẫn vững bước với cam kết tiếp tục sứ mệnh của mình, góp phần tích cực vào sự phát triển bền vững của ngành bảo hiểm.

Năm 2022, VINARE là doanh nghiệp đầu tiên trên thị trường bảo hiểm Việt Nam tiên phong xây dựng kế hoạch phát triển bền vững và lộ trình thực hiện ESG (gắn với ba yếu tố Môi trường, Xã hội, Quản trị doanh nghiệp) cụ thể trong từng lĩnh vực.

Việc sớm xây dựng và công bố lộ trình triển khai ESG của VINARE đã nhận được sự đánh giá cao từ các nhà tái bảo hiểm uy tín trên thị trường quốc tế. VINARE đang triển khai theo lộ trình đề ra và sẽ tiếp tục bổ sung, điều chỉnh để cập nhật theo yêu cầu và tình hình mới của thị trường bảo hiểm – tái bảo hiểm quốc tế.

Bên cạnh đó, VINARE đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, mở rộng thị trường, và kiến tạo những giá trị mới, nhằm mang lại lợi ích lâu dài cho cổ đông, đồng thời tạo giá trị bền vững cho cộng đồng.

VINARE quyết tâm nâng cao năng lực quản trị, tuân thủ chặt chẽ quy định pháp luật Việt Nam, kết hợp với các chuẩn mực quốc tế tiên tiến, đảm bảo minh bạch, công khai trong mọi hoạt động, từ đó xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh và hiệu quả.

VINARE tin tưởng, với sự đoàn kết và quyết tâm từ ban lãnh đạo đến từng nhân viên, cùng sự đồng hành, ủng hộ của cổ đông, khách hàng và đối tác, VINARE sẽ tiếp tục viết nên những trang sử mới đầy tự hào, vươn tới những thành công rực rỡ, và mang lại những giá trị bền vững nhất cho tất cả các bên liên quan./.

Hồng Chi

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Doanh nghiệp hiến kế, tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng GDP nửa cuối năm

Doanh nghiệp hiến kế, tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng GDP nửa cuối năm

(TBTCO) - Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương sáng 4/7, cộng đồng doanh nghiệp đã đề xuất nhiều giải pháp hỗ trợ tăng trưởng, trong đó nổi bật là cơ chế sandbox liên kết với doanh nghiệp FDI và mô hình ngân hàng số chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 15,140
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 15,030
Trang sức 99.99 14,340 15,040
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 06/07/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/07/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80