Thanh tra Chính phủ chỉ rõ vi phạm phát hành, sử dụng vốn trái phiếu tại 5 ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ vừa công khai Kết luận thanh tra số 276/KL-TTCP về việc chấp hành chính sách pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ và sử dụng nguồn tiền từ trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong giai đoạn từ ngày 1/1/2015 đến 30/6/2023. Trong đó, cả 5 tổ chức tín dụng trong phạm vi cuộc thanh tra đều mắc nhiều sai phạm.
aa
Ngân hàng đẩy mạnh phát hành trái phiếu trước áp lực từ chuẩn CAR mới Rầm rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng nào giữ ngôi vương? Infographics: 385.783 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành từ đầu năm 2025 đến nay

Theo kết quả công bố, 67 tổ chức phát hành được thanh tra, gồm 05 ngân hàng thương mại cổ phần, 37 công ty cổ phần và 25 công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Thanh tra Chính phủ chỉ rõ vi phạm phát hành, sử dụng vốn trái phiếu tại 5 ngân hàng
Thanh tra Chính phủ chỉ rõ vi phạm phát hành, sử dụng vốn trái phiếu tại 5 ngân hàng. Ảnh minh hoạ.
Trong giai đoạn trên, nhóm tổ chức tín dụng đã phát hành 386 mã trái phiếu doanh nghiệp "ba không" - không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và không có tài sản bảo đảm, với kỳ hạn từ 1 - 10 năm. Tổng giá trị phát hành 255.142,86 tỷ đồng, mục đích phát hành để tăng quy mô vốn của tổ chức tín dụng, bổ sung vốn cấp 2 và vốn khác phục vụ khách hàng, phục vụ nhu cầu cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng.

Theo kết luận thanh tra, đến thời điểm 30/6/2023, tại 05 tổ chức tín dụng còn 173 mã trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành, với tổng giá trị 97.828,6 tỷ đồng.

Thanh tra Chính phủ kiểm tra 85 mã trái phiếu doanh nghiệp tại 05 tổ chức tín dụng trong phạm vi cuộc thanh tra.

Về công tác phát hành, kết luận thanh tra cho thấy, có 3/5 tổ chức tín dụng đã sử dụng nguồn tiền thu được từ phát hành một số mã trái phiếu không đúng với mục đích nêu trong phương án phát hành và nội dung công bố thông tin.

Cụ thể, một tổ chức tín dụng đã sử dụng nguồn vốn huy động từ hai đợt phát hành trái phiếu với tổng giá trị 3.700 tỷ đồng để cho vay trung dài hạn và ngắn hạn, trong khi mục đích phát hành ban đầu được Hội đồng quản trị phê duyệt là “phục vụ nhu cầu cấp tín dụng trung dài hạn”. Theo đó, theo số liệu ngân hàng này cung cấp, nhà băng này đã giải ngân cho vay trong 02 ngày 20/12/2018 và 21/12/2018 với tổng số tiền cho vay trung dài hạn chỉ là 276,55 tỷ đồng; song cho vay ngắn hạn lên tới là 2.388,04 tỷ đồng.

Trong thông báo phát đi chiều tối ngày 17/10, ngân hàng này cho biết, trong quá trình kiểm tra, do số liệu báo cáo tại một số thời điểm chưa khớp về thời gian và có bao gồm cả các khoản vay ngắn hạn, nên phát sinh yêu cầu rà soát và khắc phục theo quy định của cơ quan thanh tra.

Ngân hàng đã hoàn tất toàn bộ nội dung khắc phục và gửi báo cáo khắc phục vào ngày 24/9/2025, theo đúng yêu cầu từ cơ quan chức năng. Đồng thời, khẳng định cam kết bảo vệ quyền lợi cổ đông, nhà đầu tư và khách hàng.

Bên cạnh đó, một tổ chức tín dụng khác sử dụng nguồn vốn từ 11 mã trái phiếu phát hành trong năm 2022, tổng giá trị 1.920 tỷ đồng, để thực hiện cho vay, thay vì đầu tư theo mục tiêu đã công bố trước đó là “bổ sung vốn cấp 2 dài hạn, phục vụ nhu cầu cấp tín dụng, đầu tư và tăng quy mô vốn hoạt động nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh doanh năm 2022 và các năm tiếp theo".

Kết luận thanh tra cũng nêu rõ, cả 05 tổ chức tín dụng được kiểm tra đều chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý nguồn vốn thu được từ phát hành trái phiếu theo quy định. Các đơn vị này có báo cáo tình hình sử dụng số tiền huy động từ trái phiếu đối với các mã còn dư nợ tại thời điểm 31/12/2022 và 30/6/2023, đồng thời các báo cáo này đã được kiểm toán.

"05 tổ chức tín dụng báo cáo không thể phân định chính xác số liệu về việc sử dụng số tiền thu được từ trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cho từng khoản vay, từng khách hàng cụ thể do toàn bộ tiền thu được từ phát hành trái phiếu doanh nghiệp không theo dõi riêng mà hòa chung vào nguồn vốn kinh doanh chung của tổ chức tín dụng" - kết luận thanh tra nêu rõ.

Để từ đó, giải ngân cho cá nhân, tổ chức vay vốn trong khi các hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng (giải ngân tiền cho vay nhận tiền thu hồi nợ - nhận tiền đi vay) diễn ra liên tục và đan xen. Do đó, các tổ chức tín dụng không theo dõi riêng, cụ thể từng khách hàng vay vốn từ nguồn tiền thu được từ phát hành trái phiếu doanh nghiệp...

Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo Thanh tra Ngân hàng Nhà nước tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc phát hành, sử dụng và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, kịp thời xử lý vi phạm.

Đồng thời, chỉ đạo Thanh tra Ngân hàng Nhà nước kiểm tra việc nhận và quản lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn đối với các lô trái phiếu sau: NVL2020-01, NVL2020-02, NVL2020-03 của Công ty cổ phần Tập đoàn No Va; NTDCH222700 của Công ty TNHH No Va Thảo Điền; GDUCH2131001 của Công ty Gia Đức để xem xét, đánh giá mức độ rủi ro...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước. Chỉ số DXY tăng 0,26% lên 101,12 điểm khi lạm phát Mỹ vẫn ở mức cao, khiến Fed tiếp tục theo dõi sát các dữ liệu kinh tế trước khi điều chỉnh chính sách. Thị trường cũng theo dõi động thái Chính phủ Nhật Bản can thiệp khi tỷ giá quanh vùng 162 - 163 JPY/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
Nới trần SMLR, "cơi nới" room tín dụng giữa lúc huy động chậm khiến thanh khoản thêm áp lực

Nới trần SMLR, "cơi nới" room tín dụng giữa lúc huy động chậm khiến thanh khoản thêm áp lực

(TBTCO) - Việc nâng trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40% và miễn trừ một số khoản cho vay dự án hạ tầng trọng điểm khỏi room được kỳ vọng thúc đẩy tín dụng, nhất là dự án hạ tầng và bất động sản. Tuy nhiên, VIS Rating lưu ý, động thái này làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn, rủi ro thanh khoản hệ thống và tạo áp lực huy động nhiều ngân hàng.
"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

(TBTCO) - Trong bối cảnh tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm vẫn dưới 3%, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm/GDP thấp cho thấy "đại dương xanh" của thị trường bảo hiểm còn rất lớn. Chọn khai phá bằng bảo hiểm vi mô, Bảo hiểm Công nghệ Ngôi Nhà Xanh (NNX Insurance) đặt mục tiêu phục vụ 10 triệu khách hàng, đưa bảo hiểm đến gần hơn với người dân và hướng đến doanh thu phí lên tới 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

(TBTCO) - F88 chính thức mở nhận đăng ký mua cổ phiếu trong đợt chào bán ra công chúng từ ngày 6/7, với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến huy động gần 1.564 tỷ đồng. Theo đánh giá, đợt phát hành không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực nợ vay, mà còn tạo điều kiện để F88 niêm yết trên HOSE ngay trong năm 2026.
BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

(TBTCO) - BVBank chuẩn bị triển khai phương án tăng vốn điều lệ năm 2026. Theo phương án trước đó, nếu hoàn tất hai đợt phát hành cho cổ đông hiện hữu và ESOP, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ tăng 55% lên 9.912 tỷ đồng. BVBank cũng đang hoàn tất các thủ tục để chuyển niêm yết cổ phiếu từ UPCoM sang HOSE.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
Kim TT/AVPL 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 ▼50K 13,600 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 13,350 ▼50K 13,550 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▼50K 14,300 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▼50K 14,250 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▼50K 14,230 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,800 ▼700K 148,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,650 ▼50K 14,950 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,600 14,900 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,600 14,900 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,600 14,900 ▼50K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,090 ▼50K 14,790 ▼50K
Trang sức 99.99 14,100 ▼50K 14,800 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,465 ▲1318K 14,952 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,465 ▲1318K 14,953 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,462 ▼5K 1,492 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,462 ▼5K 1,493 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,437 ▼5K 1,472 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 ▼495K 145,743 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▼675K 110,561 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 ▼640K 100,256 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 ▼605K 89,951 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 ▼592K 85,976 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 ▼508K 61,539 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,465 ▲1318K 1,495 ▲1345K
Cập nhật: 08/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17725 17999 18571
CAD 17992 18267 18881
CHF 31876 32257 32903
CNY 0 3827 3920
EUR 29383 29604 30681
GBP 34313 34705 35637
HKD 0 3222 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14686 15273
SGD 19800 20082 20658
THB 704 767 820
USD (1,2) 26028 0 0
USD (5,10,20) 26069 0 0
USD (50,100) 26098 26112 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,487 29,511 30,896
JPY 157.57 157.85 167.23
GBP 34,483 34,576 35,739
AUD 17,898 17,963 18,625
CAD 18,170 18,228 18,886
CHF 32,115 32,215 33,130
SGD 19,911 19,973 20,738
CNY - 3,796 3,939
HKD 3,286 3,296 3,431
KRW 15.98 16.66 18.11
THB 750.6 759.87 812.86
NZD 14,626 14,762 15,184
SEK - 2,666 2,759
DKK - 3,945 4,080
NOK - 2,638 2,729
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,019.89 - 6,790.15
TWD 738.34 - 893.69
SAR - 6,885.36 7,246.7
KWD - 83,195 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,086 26,106 26,466
EUR 29,442 29,560 30,752
GBP 34,488 34,627 35,656
HKD 3,285 3,298 3,415
CHF 31,961 32,089 33,019
JPY 157.91 158.54 166.44
AUD 17,893 17,965 18,559
SGD 19,981 20,061 20,649
THB 768 771 807
CAD 18,185 18,258 18,828
NZD 14,707 15,246
KRW 16.60 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26466
AUD 17879 17979 18905
CAD 18160 18260 19271
CHF 32097 32127 33709
CNY 3809.1 3834.1 3969.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29539 29569 31292
GBP 34600 34650 36410
HKD 0 3355 0
JPY 158.42 158.92 169.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14751 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19942 20072 20798
THB 0 731.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14600000 14600000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,466
USD20 26,110 26,160 26,466
USD1 23,946 26,160 26,466
AUD 17,917 18,017 19,148
EUR 29,322 29,422 31,121
CAD 18,101 18,201 19,530
SGD 20,008 20,158 20,751
JPY 158.81 160.31 166.11
GBP 34,481 34,631 35,742
XAU 14,698,000 0 15,002,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/07/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80