Rầm rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng nào giữ ngôi vương?

(TBTCO) - Trong năm 2024, ngành ngân hàng giữ ngôi vương về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, chiếm áp đảo gần 70% tổng giá trị phát hành, với mức tăng khoảng 130% so với cùng kỳ. Một số ngân hàng có giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp lớn có thể kể đến như: ACB, HDBank, Techcombank...
aa

Nhìn lại thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2024, Công ty Cổ phần FiinRatings cho rằng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sơ cấp Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ với tổng giá trị phát hành đạt 443 nghìn tỷ đồng. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư vào triển vọng của nền kinh tế và khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp trong bối cảnh phục hồi.

Ngân hàng rầm rộ phát hành, tăng 130% cùng kỳ

Năm 2024 là một dấu mốc ấn tượng đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, với tổng giá trị phát hành ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể. Điều này không chỉ phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường mà còn tạo ra nhiều cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Giá trị phát hành mới trong năm 2024 bật tăng mạnh so với hai năm trước đây, tương ứng tăng khoảng 30% so với năm 2023 và 65% so với năm 2022.

Ngành ngân hàng giữ ngôi vương phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Trong đó, ngành ngân hàng tiếp tục giữ vị trí chủ lực với giá trị phát hành gần 300 nghìn tỷ đồng, chiếm tới 67,1% tổng giá trị phát hành. Sự thống trị của ngân hàng không chỉ thể hiện sức mạnh tài chính mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phục hồi.

"Mặc dù tỷ lệ chậm trả trái phiếu doanh nghiệp vẫn cao và áp lực đáo hạn vẫn lớn nhưng chúng tôi đánh giá các vấn đề cũ cơ bản đã được tái cơ cấu hoặc thẩm thấu vào chất lượng tín dụng ngân hàng qua tỷ lệ nợ xấu gộp tăng khá cao. Chất lượng tín dụng các tổ chức phát hành mới năm 2024 cơ bản tốt hơn các doanh nghiệp phát hành ở giai đoạn trước kia" - ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Công ty cổ phần FiinRatings nhận định.

Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Công ty cổ phần FiinRatings cho rằng, đây là mức tăng trưởng mạnh mẽ và chỉ sau năm đỉnh cao 2020-2021 trước khi xảy ra nhiều sự kiện lùm xùm, tiêu cực và suy giảm sau đó.

Số liệu của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, ngân hàng là nhóm ngành có giá trị phát hành cao nhất, tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ lên tới 130% cùng kỳ. Trong đó, một số ngân hàng có giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp lớn nhất từ đầu năm đến nay là: ACB (36,1 nghìn tỷ đồng), HDBank (30,9 nghìn tỷ đồng), Techcombank (26,9 nghìn tỷ đồng)...

Nhóm phân tích từ MBS cho rằng, ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu nhằm bổ sung vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay. Trong năm 2024, tín dụng toàn ngành tăng 15,08%, cao hơn so với mức 13,71% cùng kỳ năm ngoái nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động sản xuất, xuất khẩu và dịch vụ.

Trong tháng cuối cùng của năm, nhiều ngân hàng phát hành trái phiếu thành công và huy động được hàng ngàn tỷ đồng. Chẳng hạn, ACB phát hành thành công lô trái phiếu thứ 16 trong năm 2024, thu về 250 tỷ đồng, với lãi suất 6,1%/năm. Với kỳ hạn 5 năm, lô trái phiếu này dự kiến đáo hạn vào ngày 18/12/2029.

Tương tự, MB là một trong những nhà băng có nhiều đợt huy động trái phiếu trong tháng 12/2024 khi phát hành cấp tập 6 đợt trái phiếu và huy động được 2.200 tỷ đồng.

Tương tự, Ngân hàng VIB công bố phát hành thành công ba lô trái phiếu với giá trị 6.000 tỷ đồng cuối năm 2024, trong đó có hai đợt có lãi suất 5,3%/năm kỳ hạn 3 năm.

Ngân hàng OCB phát hành 3 lô trái phiếu có cùng kỳ hạn 3 năm, lãi suất dao động 5,5-5,6%/năm, tổng cộng huy động được 3.700 tỷ đồng.

Bất động sản khó phát hành, lãi suất đẩy lên cao

Trong khi đó, theo FiinRatings, ngành bất động sản chứng kiến sự sụt giảm đáng kể 18,7%, với kỳ hạn phát hành rút ngắn còn 2,65 năm (so với 3,72 năm 2023) và lãi suất tăng lên 11,13% so với 10,93% năm trước.

"Số liệu này phản ánh khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn dài hạn và áp lực tài chính lớn trong bối cảnh thị trường chưa phục hồi mạnh mẽ. Tuy nhiên, năm 2025 được dự báo sẽ khởi sắc nhờ những cải cách chính sách và nhu cầu đầu tư tăng cao. Đây sẽ là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp bất động sản bứt phá và trở lại đường đua" - nhóm phân tích FiinRatings đánh giá.

Dù thị trường bất động sản chưa có dấu hiệu phục hồi rõ nét trên diện rộng, vẫn có 27 doanh nghiệp thành công huy động vốn qua trái phiếu doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp phát hành giá trị lớn nhất bao gồm: Vinhomes (16,5 nghìn tỷ đồng), Tập đoàn Vingroup (10 nghìn tỷ đồng) và Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển bất động sản Hải Đăng (5,4 nghìn tỷ đồng).

Những con số này cho thấy nhà đầu tư vẫn thận trọng trước rủi ro của trái phiếu bất động sản, thể hiện qua kỳ hạn ngắn hơn và lãi suất cao hơn, dù lãi suất tín dụng cơ bản đã ổn định trong hai năm qua.

Tuy nhiên, với sự quyết liệt của Chính phủ và các bộ, ngành trong việc tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các dự án bất động sản, cùng với kỳ vọng từ các chính sách mới bao gồm Luật Đất Đai, Luật Kinh doanh Bất động sản và cải thiện môi trường tín dụng, ngành bất động sản dân cư có triển vọng hồi phục tích cực từ nửa cuối năm 2025.

Rầm rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng nào giữ ngôi vương?
Rầm rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng nào giữ ngôi vương?

Đặc biệt, giới phân tích nhận thấy các doanh nghiệp ngày càng chú trọng đến minh bạch thông tin và quản trị rủi ro thông qua việc tham gia xếp hạng tín nhiệm. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường mà còn thu hút sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư định chế trong nước và quốc tế, góp phần cải thiện dòng vốn cho doanh nghiệp.

Ngoài việc duy trì xếp hạng tín nhiệm tổ chức phát hành, sự tham gia chủ động của một số doanh nghiệp trong xếp hạng từng lô trái phiếu, có lô trái phiếu được xếp hạng tín nhiệm cao nhờ bảo lãnh thanh toán của một số tổ chức quốc tế cũng góp phần vào thành công của các giao dịch, cung cấp cơ sở cho thẩm định, quyết định đầu tư và quản trị rủi ro cho các định chế tài chính sở hữu trái phiếu. Điều này cũng phù hợp với xu hướng của thị trường vốn trong khu vực, nơi tỷ lệ bao phủ xếp hạng tín nhiệm trái phiếu ở 6 quốc gia ASEAN đạt 51% vào năm 2022./.

Thống kê của FiinRatings cho thấy, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp lưu hành năm 2024 đạt 1,26 triệu tỷ đồng, tương đương 11,2% GDP, đây là một bước tiến đáng ghi nhận, dù vẫn còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực. Trong đó, trái phiếu ngành ngân hàng chiếm tỷ trọng 44,1%, tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong khi trái phiếu bất động sản chiếm 29%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲70K 14,560 ▲70K
Trang sức 99.99 13,970 ▲70K 14,570 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▲12K 14,652 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▲12K 14,653 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1275K 146 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1275K 1,461 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▲12K 145 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▲1188K 143,564 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▲900K 108,911 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼79248K 9,876 ▼88068K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲732K 88,609 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▲699K 84,693 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲500K 60,621 ▲500K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cập nhật: 16/09/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,684 25,724 26,180
USD20 25,654 25,724 26,180
USD1 25,634 25,724 26,180
AUD 18,217 18,317 19,422
EUR 29,347 29,447 31,106
CAD 18,251 18,351 19,655
SGD 20,102 20,252 20,816
JPY 164.48 165.98 171.53
GBP 34,423 34,573 35,630
XAU 14,288,000 0 14,592,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30