Rầm rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng nào giữ ngôi vương?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong năm 2024, ngành ngân hàng giữ ngôi vương về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, chiếm áp đảo gần 70% tổng giá trị phát hành, với mức tăng khoảng 130% so với cùng kỳ. Một số ngân hàng có giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp lớn có thể kể đến như: ACB, HDBank, Techcombank...
aa

Nhìn lại thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2024, Công ty Cổ phần FiinRatings cho rằng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sơ cấp Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ với tổng giá trị phát hành đạt 443 nghìn tỷ đồng. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư vào triển vọng của nền kinh tế và khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp trong bối cảnh phục hồi.

Ngân hàng rầm rộ phát hành, tăng 130% cùng kỳ

Năm 2024 là một dấu mốc ấn tượng đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, với tổng giá trị phát hành ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể. Điều này không chỉ phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường mà còn tạo ra nhiều cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Giá trị phát hành mới trong năm 2024 bật tăng mạnh so với hai năm trước đây, tương ứng tăng khoảng 30% so với năm 2023 và 65% so với năm 2022.

Ngành ngân hàng giữ ngôi vương phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Trong đó, ngành ngân hàng tiếp tục giữ vị trí chủ lực với giá trị phát hành gần 300 nghìn tỷ đồng, chiếm tới 67,1% tổng giá trị phát hành. Sự thống trị của ngân hàng không chỉ thể hiện sức mạnh tài chính mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phục hồi.

"Mặc dù tỷ lệ chậm trả trái phiếu doanh nghiệp vẫn cao và áp lực đáo hạn vẫn lớn nhưng chúng tôi đánh giá các vấn đề cũ cơ bản đã được tái cơ cấu hoặc thẩm thấu vào chất lượng tín dụng ngân hàng qua tỷ lệ nợ xấu gộp tăng khá cao. Chất lượng tín dụng các tổ chức phát hành mới năm 2024 cơ bản tốt hơn các doanh nghiệp phát hành ở giai đoạn trước kia" - ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Công ty cổ phần FiinRatings nhận định.

Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Công ty cổ phần FiinRatings cho rằng, đây là mức tăng trưởng mạnh mẽ và chỉ sau năm đỉnh cao 2020-2021 trước khi xảy ra nhiều sự kiện lùm xùm, tiêu cực và suy giảm sau đó.

Số liệu của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, ngân hàng là nhóm ngành có giá trị phát hành cao nhất, tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ lên tới 130% cùng kỳ. Trong đó, một số ngân hàng có giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp lớn nhất từ đầu năm đến nay là: ACB (36,1 nghìn tỷ đồng), HDBank (30,9 nghìn tỷ đồng), Techcombank (26,9 nghìn tỷ đồng)...

Nhóm phân tích từ MBS cho rằng, ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu nhằm bổ sung vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay. Trong năm 2024, tín dụng toàn ngành tăng 15,08%, cao hơn so với mức 13,71% cùng kỳ năm ngoái nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động sản xuất, xuất khẩu và dịch vụ.

Trong tháng cuối cùng của năm, nhiều ngân hàng phát hành trái phiếu thành công và huy động được hàng ngàn tỷ đồng. Chẳng hạn, ACB phát hành thành công lô trái phiếu thứ 16 trong năm 2024, thu về 250 tỷ đồng, với lãi suất 6,1%/năm. Với kỳ hạn 5 năm, lô trái phiếu này dự kiến đáo hạn vào ngày 18/12/2029.

Tương tự, MB là một trong những nhà băng có nhiều đợt huy động trái phiếu trong tháng 12/2024 khi phát hành cấp tập 6 đợt trái phiếu và huy động được 2.200 tỷ đồng.

Tương tự, Ngân hàng VIB công bố phát hành thành công ba lô trái phiếu với giá trị 6.000 tỷ đồng cuối năm 2024, trong đó có hai đợt có lãi suất 5,3%/năm kỳ hạn 3 năm.

Ngân hàng OCB phát hành 3 lô trái phiếu có cùng kỳ hạn 3 năm, lãi suất dao động 5,5-5,6%/năm, tổng cộng huy động được 3.700 tỷ đồng.

Bất động sản khó phát hành, lãi suất đẩy lên cao

Trong khi đó, theo FiinRatings, ngành bất động sản chứng kiến sự sụt giảm đáng kể 18,7%, với kỳ hạn phát hành rút ngắn còn 2,65 năm (so với 3,72 năm 2023) và lãi suất tăng lên 11,13% so với 10,93% năm trước.

"Số liệu này phản ánh khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn dài hạn và áp lực tài chính lớn trong bối cảnh thị trường chưa phục hồi mạnh mẽ. Tuy nhiên, năm 2025 được dự báo sẽ khởi sắc nhờ những cải cách chính sách và nhu cầu đầu tư tăng cao. Đây sẽ là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp bất động sản bứt phá và trở lại đường đua" - nhóm phân tích FiinRatings đánh giá.

Dù thị trường bất động sản chưa có dấu hiệu phục hồi rõ nét trên diện rộng, vẫn có 27 doanh nghiệp thành công huy động vốn qua trái phiếu doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp phát hành giá trị lớn nhất bao gồm: Vinhomes (16,5 nghìn tỷ đồng), Tập đoàn Vingroup (10 nghìn tỷ đồng) và Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển bất động sản Hải Đăng (5,4 nghìn tỷ đồng).

Những con số này cho thấy nhà đầu tư vẫn thận trọng trước rủi ro của trái phiếu bất động sản, thể hiện qua kỳ hạn ngắn hơn và lãi suất cao hơn, dù lãi suất tín dụng cơ bản đã ổn định trong hai năm qua.

Tuy nhiên, với sự quyết liệt của Chính phủ và các bộ, ngành trong việc tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các dự án bất động sản, cùng với kỳ vọng từ các chính sách mới bao gồm Luật Đất Đai, Luật Kinh doanh Bất động sản và cải thiện môi trường tín dụng, ngành bất động sản dân cư có triển vọng hồi phục tích cực từ nửa cuối năm 2025.

Rầm rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng nào giữ ngôi vương?
Rầm rộ phát hành trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng nào giữ ngôi vương?

Đặc biệt, giới phân tích nhận thấy các doanh nghiệp ngày càng chú trọng đến minh bạch thông tin và quản trị rủi ro thông qua việc tham gia xếp hạng tín nhiệm. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường mà còn thu hút sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư định chế trong nước và quốc tế, góp phần cải thiện dòng vốn cho doanh nghiệp.

Ngoài việc duy trì xếp hạng tín nhiệm tổ chức phát hành, sự tham gia chủ động của một số doanh nghiệp trong xếp hạng từng lô trái phiếu, có lô trái phiếu được xếp hạng tín nhiệm cao nhờ bảo lãnh thanh toán của một số tổ chức quốc tế cũng góp phần vào thành công của các giao dịch, cung cấp cơ sở cho thẩm định, quyết định đầu tư và quản trị rủi ro cho các định chế tài chính sở hữu trái phiếu. Điều này cũng phù hợp với xu hướng của thị trường vốn trong khu vực, nơi tỷ lệ bao phủ xếp hạng tín nhiệm trái phiếu ở 6 quốc gia ASEAN đạt 51% vào năm 2022./.

Thống kê của FiinRatings cho thấy, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp lưu hành năm 2024 đạt 1,26 triệu tỷ đồng, tương đương 11,2% GDP, đây là một bước tiến đáng ghi nhận, dù vẫn còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực. Trong đó, trái phiếu ngành ngân hàng chiếm tỷ trọng 44,1%, tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong khi trái phiếu bất động sản chiếm 29%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Kim TT/AVPL 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼150K 15,050 ▼150K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼150K 15,000 ▼150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▼150K 16,050 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▼150K 16,000 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▼150K 15,980 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
NL 99.90 14,550 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼150K
Trang sức 99.9 15,390 ▼150K 16,090 ▼150K
Trang sức 99.99 15,400 ▼150K 16,100 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼2K 16,202 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼2K 16,203 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 ▼18K 1,615 ▼18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 ▼18K 1,616 ▼18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 ▼18K 160 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 ▼1782K 158,416 ▼1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 ▼1350K 120,162 ▼1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 ▼1224K 108,961 ▼1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 ▼81072K 9,776 ▼89082K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 ▼1050K 93,439 ▼1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 ▼750K 66,877 ▼750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1454K 162 ▼1476K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cập nhật: 20/05/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18202 18477 19055
CAD 18635 18913 19529
CHF 32739 33124 33771
CNY 0 3830 3922
EUR 29962 30235 31261
GBP 34527 34919 35863
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15076 15664
SGD 20035 20318 20839
THB 722 785 838
USD (1,2) 26097 0 0
USD (5,10,20) 26139 0 0
USD (50,100) 26167 26187 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,151 26,151 26,391
USD(1-2-5) 25,105 - -
USD(10-20) 25,105 - -
EUR 30,030 30,054 31,321
JPY 161.1 161.39 170.19
GBP 34,623 34,717 35,724
AUD 18,345 18,411 19,005
CAD 18,784 18,844 19,435
CHF 32,939 33,041 33,837
SGD 20,109 20,172 20,854
CNY - 3,791 3,915
HKD 3,295 3,305 3,424
KRW 16.07 16.76 18.14
THB 767.13 776.6 827.76
NZD 15,002 15,141 15,503
SEK - 2,750 2,833
DKK - 4,019 4,138
NOK - 2,789 2,873
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,183.51 - 6,941.47
TWD 750.36 - 904.13
SAR - 6,899.77 7,228.26
KWD - 83,539 88,407
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,131 26,151 26,391
EUR 29,994 30,114 31,292
GBP 34,644 34,783 35,788
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,789 32,921 33,847
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,338 18,412 18,999
SGD 20,187 20,268 20,846
THB 786 789 823
CAD 18,799 18,874 19,445
NZD 15,089 15,620
KRW 16.72 18.34
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18356 18456 19379
CAD 18811 18911 19927
CHF 32961 32991 34574
CNY 3809.5 3834.5 3969.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30119 30149 31875
GBP 34788 34838 36607
HKD 0 3355 0
JPY 162.36 162.86 173.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20174 20304 21036
THB 0 749.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,391
USD20 26,185 26,235 26,391
USD1 23,879 26,235 26,391
AUD 18,391 18,491 19,608
EUR 30,264 30,264 31,687
CAD 18,753 18,853 20,167
SGD 20,245 20,395 21,320
JPY 162.69 164.19 168.78
GBP 34,668 35,018 36,160
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/05/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80