4 tháng đầu năm, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đạt 4.046 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 2 cho biết, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến cuối tháng 4/2025 đạt 4.046 nghìn tỷ đồng, tăng 2,62% so với cuối năm 2024 và tăng 12,78% so với cùng kỳ.
aa
Tín dụng trên địa bàn TPHCM tăng 12,78% so với cùng kỳ- Ảnh 1.
Tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh tăng 12,78% so với cùng kỳ.

Ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh khu vực 2 cho biết, đây là kết quả tăng trưởng tích cực, phản ánh những yếu tố tác động từ môi trường kinh tế xã hội và cơ chế chính sách của NHNN.

Thứ nhất, về quy mô tín dụng trên địa bàn, lần đầu tiên tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn đạt ngưỡng kỹ thuật trên 4 triệu tỷ đồng và tăng cao hơn cùng kỳ các năm trước đây (cùng kỳ, 4 tháng đầu năm 2024, tín dụng tăng 1,31%; năm 2023 tăng 1,72%).

Thứ hai, các yếu tố thuận lợi từ môi trường kinh tế xã hội và cơ chế chính sách tiền tệ tín dụng của NHNN là yếu tố chính tác động tích cực đến tăng trưởng tín dụng trong 4 tháng đầu năm. Trong đó, chính sách tín dụng phù hợp, linh hoạt cùng chính sách lãi suất thấp đã và đang hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Hiệu quả chính sách tiền tệ, tín dụng và lãi suất đã phát huy và tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, theo NHNN chi nhánh khu vực 2, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh tiếp tục tâp trung lĩnh vực sản xuất kinh doanh và hỗ trợ cho các nhóm ngành lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế. Riêng tín dụng đối với 9 nhóm ngành dịch vụ chủ yếu (có đóng trên 60% GRDP của thành phố) như: Thương mại, du lịch; truyền thông; khoa học công nghệ; y tế; giáo dục; tài chính; nghệ thuật vui chơi giải trí… đạt trên 1,4 triệu tỷ đồng, chiếm 35,4% trong tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực, tăng trên 3,6% so với cuối năm 2024.

Phó Giám đốc NHNN chi nhánh khu vực 2 Nguyễn Đức Lệnh cho rằng, tăng trưởng tín dụng 4 tháng đầu năm trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh phản ánh xu hướng tích cực, gắn liền với hiệu quả chính sách tiền tệ, tín dụng và lãi suất của NHNN và tăng trưởng kinh tế.

Trong quá trình này, tăng trưởng kinh tế và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với việc mở rộng và tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả. Yếu tố này được duy trì, sẽ tiếp tục là động lực cho tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.

Tín dụng tiêu dùng tăng trưởng tích cực

Cùng với sự tăng trưởng tích cực của nền kinh tế, trong những tháng đầu năm 2025, hoạt động tín dụng tiêu dùng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh cũng tiếp tục duy trì đà tăng. Trong 3 tháng đầu năm 2025, tín dụng tiêu dùng trên địa bàn Thành phố tăng trưởng 2,3% cao hơn cùng kỳ này các năm trước (cùng kỳ năm 2024 tín dụng tiêu dùng giảm 0,9%; năm 2023 tăng 0,7%). Điều này, phản ánh nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn Thành phố tăng trưởng và mở rộng.

Diễn biến này có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại du lịch và dịch vụ trên địa bàn Thành phố.

Theo đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn Thành phố trong 3 tháng đầu năm và trong tháng 4/2025 tiếp tục tăng trưởng mạnh, riêng doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4/2025 tăng 28,7% so với cùng kỳ. Đây cũng là yếu tố động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thành phố nói chung và tín dụng tiêu dùng nói riêng trong thời gian tới.

Phó Giám đốc NHNN chi nhánh khu vực 2 Nguyễn Đức Lệnh nhấn mạnh, cùng với các sản phẩm cho vay tiêu dùng đa dạng, linh hoạt và tiện ích gắn với khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại của các tổ chức tín dụng đã và đang là các yếu tố thúc đẩy hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển hiệu quả, góp phần thúc đẩy và phát huy vai trò động lực tăng trưởng kinh tế của lĩnh vực tiêu dùng trong thực hiện các giải pháp về tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của ngành Ngân hàng nói chung và trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nói riêng.

Hà Linh (tổng hợp)

Đọc thêm

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

(TBTCO) - Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 50% và gần 30 triệu cổ phiếu cho người lao động, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 106.600 tỷ đồng. Phương án mới điều chỉnh đáng kể so với kế hoạch trước, trong bối cảnh tín dụng của ngân hàng tăng mạnh và tiến sát hạn mức theo kịch bản đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông.
Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

(TBTCO) - Tiếp và làm việc với đoàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Bảo hiểm FWD, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế uy tín như FWD đầu tư lâu dài, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vừa có thêm hai gương mặt mới là VietSure Insurance (VSI) và ACB Insurance, nâng tổng số doanh nghiệp trong khối lên con số 34. Được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành bảo hiểm phi nhân thọ đang trở thành điểm đến hấp dẫn với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,950 ▲150K 15,350 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,950 ▲150K 15,350 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,950 ▲150K 15,350 ▲150K
NL 99.99 14,250 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,150 ▲100K
Trang sức 99.9 14,660 ▲150K 15,260 ▲150K
Trang sức 99.99 14,670 ▲150K 15,270 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,476 ▲1329K 15,062 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,476 ▲1329K 15,063 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,471 ▲6K 1,501 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,471 ▲6K 1,502 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,446 ▲11K 1,491 ▲1343K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,624 ▲1089K 147,624 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,186 ▲825K 111,986 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,748 ▲91657K 101,548 ▲100540K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,131 ▼72508K 9,111 ▼81328K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,284 ▲641K 87,084 ▲641K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,531 ▲459K 62,331 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Cập nhật: 25/08/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18143 18418 18995
CAD 18319 18595 19210
CHF 31851 32232 32876
CNY 0 3840 3950
EUR 29815 30038 31117
GBP 34791 35184 36117
HKD 0 3202 3404
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15252 15837
SGD 20014 20296 20865
THB 712 775 828
USD (1,2) 25863 0 0
USD (5,10,20) 25903 0 0
USD (50,100) 25931 25945 26311
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,867 29,891 31,307
JPY 159.53 159.82 169.47
GBP 34,973 35,068 36,273
AUD 18,335 18,401 19,097
CAD 18,505 18,564 19,254
CHF 32,116 32,216 33,158
SGD 20,138 20,201 20,993
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.4 18.15 19.75
THB 760.07 769.46 823.83
NZD 15,232 15,373 15,831
SEK - 2,703 2,798
DKK - 4,006 4,147
NOK - 2,761 2,859
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,034.48 - 6,814.11
TWD 739.76 - 896.18
SAR - 6,842.73 7,207.33
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,921 30,041 31,239
GBP 35,007 35,148 36,186
HKD 3,266 3,279 3,397
CHF 31,986 32,114 33,051
JPY 160.01 160.65 168.61
AUD 18,360 18,434 19,030
SGD 20,217 20,298 20,896
THB 778 781 818
CAD 18,530 18,604 19,198
NZD 15,339 15,888
KRW 18.09 20.08
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26330
AUD 18352 18452 19377
CAD 18522 18622 19638
CHF 32135 32165 33755
CNY 3827.5 3852.5 3988
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30037 30067 31792
GBP 35142 35192 36945
HKD 0 3330 0
JPY 160.57 161.07 171.63
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15383 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20195 20325 21048
THB 0 742.7 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,990 26,040 26,370
USD20 25,940 26,040 26,845
USD1 24,335 26,040 26,895
AUD 18,415 18,515 19,635
EUR 29,866 29,966 31,647
CAD 18,487 18,587 19,909
SGD 20,297 20,447 21,018
JPY 161.33 162.83 168.51
GBP 35,069 35,219 36,494
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,742 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/08/2026 14:30
Ngân hàng