TP. Hồ Chí Minh cần tìm động lực mới khi dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp

Lạc Nguyên
(TBTCO) - Với quy mô kinh tế chiếm khoảng 24,5% GDP cả nước, TP. Hồ Chí Minh đang giữ vai trò ngày càng lớn trong tăng trưởng chung. Tuy nhiên, khi các động lực truyền thống như vốn, lao động, tiêu dùng và xuất khẩu dần bộc lộ giới hạn, bài toán của thành phố không chỉ là chạy theo tốc độ, mà phải tìm được những động lực mới dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn lực.
aa

Động lực cũ đang dần chạm giới hạn

Sau sáp nhập, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước một vị thế mới trong nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2026, quy mô kinh tế của thành phố được đánh giá chiếm khoảng 24,5% GDP cả nước, tức gần 1/4 nền kinh tế.

Theo ThS. Phạm Bình An - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh, mỗi 1% tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh có thể đóng góp khoảng 0,24 - 0,25 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của cả nước.

6 tháng đầu năm, thành phố tăng trưởng 8,5%, mức cao nhất trong khoảng 10 năm qua. Đây là kết quả đáng ghi nhận, nhưng để đạt mục tiêu tăng trưởng 10% vẫn là một thách thức rất lớn. Khi quy mô kinh tế càng lớn, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao cũng càng khó.

Theo ông An, những nguồn lực từng giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh đang không còn nhiều dư địa.

Trước hết là vốn đầu tư. Nếu tiếp tục tăng đầu tư theo chiều rộng thì vẫn có thể làm tăng quy mô, nhưng hiệu quả sẽ không còn như trước. Trong khi đó, dòng vốn hiện đang tập trung khá nhiều vào các doanh nghiệp lớn.

Lao động cũng không còn là lợi thế có thể khai thác theo cách cũ. “Chúng ta đã đi qua giai đoạn dân số vàng. TP. Hồ Chí Minh hiện là một trong những địa phương có tốc độ già hóa dân số nhanh. Vì vậy, đóng góp của lực lượng lao động vào tăng trưởng sẽ có xu hướng chậm lại” - ông An nhận định.

Điều này khiến năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trở thành một động lực mà TP. Hồ Chí Minh cần tập trung mạnh hơn, đây là yếu tố chưa được chú trọng đúng mức.

Ở phía cầu, sức ép cũng xuất hiện. Tiêu dùng trong nước đang có dấu hiệu suy yếu trong khi sự phân bổ thu nhập chưa đồng đều, đặc biệt ở nhóm hộ kinh doanh.

Theo ông An, chủ trương chuyển hộ kinh doanh lên doanh nghiệp là đúng, nhưng nếu trong quá trình thực hiện, các chính sách về thuế và yêu cầu quản lý tạo thêm khó khăn cho nhóm này thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và sức mua của người dân.

“Hiện có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh, trong đó một bộ phận rất lớn đang tạo ra thu nhập và việc làm. Vì vậy, thúc đẩy tiêu dùng trong nước không chỉ là câu chuyện khuyến mại hay kích cầu, mà trước hết phải quan tâm đến thu nhập và khả năng chi tiêu của người dân” - ông An nói.

TP. Hồ Chí Minh cần tìm động lực mới khi dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp
Để thúc đẩy tiêu dùng trong nước, trước hết phải nâng cao thu nhập và khả năng chi tiêu của người dân. Ảnh: Lạc Nguyên

Xuất khẩu cũng đứng trước những thách thức. Việt Nam đã tham gia 19 FTA nhưng tỷ lệ tận dụng các hiệp định này chưa cao. Đáng chú ý, khoảng 75% kim ngạch xuất khẩu hiện đến từ khu vực FDI, thậm chí có thời điểm tỷ lệ này lên tới khoảng 85%.

Ông An chia sẻ, chuỗi cung ứng và thị trường của các doanh nghiệp FDI phần lớn nằm trong hệ thống toàn cầu của họ, nên khả năng chúng ta chủ động điều tiết không nhiều. Những biến động của thương mại toàn cầu vì vậy có thể tác động đáng kể đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Trong khi đó, đầu tư công dù được Chính phủ và TP. Hồ Chí Minh rất quyết tâm thúc đẩy, tỷ lệ giải ngân trong 6 tháng đầu năm đến tháng 7 mới đạt khoảng 43%, vẫn chưa đạt yêu cầu đặt ra.

Như vậy, từ vốn, lao động, tiêu dùng, xuất khẩu đến đầu tư công, các động lực truyền thống đều đang xuất hiện những điểm nghẽn nhất định. Bài toán không còn đơn thuần là huy động thêm nguồn lực, mà là làm thế nào để mỗi đồng vốn, mỗi lao động và mỗi nguồn lực tạo ra giá trị cao hơn.

Tăng trưởng phải dựa nhiều hơn vào năng suất

Theo ThS. Phạm Bình An, hướng chuyển đổi quan trọng của TP. Hồ Chí Minh là từ mô hình tăng trưởng ngoại sinh, dựa nhiều vào các yếu tố bên ngoài, sang tăng trưởng nội sinh, dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo và thể chế.

Điều này không có nghĩa từ bỏ các động lực truyền thống, mà phải nâng hiệu quả của chúng. Đầu tư công tiếp tục cần đóng vai trò dẫn dắt, đồng thời phải thúc đẩy đầu tư tư nhân, trong đó có hơn 400.000 doanh nghiệp của thành phố, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là huy động thêm vốn mà phải xem dòng vốn đi vào đâu và tạo ra giá trị gì. Theo ông Bình An, dòng vốn tư nhân hiện có xu hướng tập trung khá nhiều vào bất động sản, hạ tầng và các trung tâm thương mại, trong khi đầu tư vào sản xuất, đặc biệt là sản xuất tạo giá trị gia tăng và việc làm, vẫn còn hạn chế.

“Tôi cho rằng đây là vấn đề cần quan tâm. Một công trình lớn không chỉ được đánh giá bởi quy mô vốn hay giá trị bất động sản tạo ra, mà quan trọng hơn là phải tạo ra năng lực sản xuất, việc làm và giá trị thực cho nền kinh tế” - ông An nói.

Với FDI, yêu cầu cũng phải chuyển từ thu hút vốn sang nâng chất lượng dòng vốn. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh cho thấy mối liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn rất yếu.

Việt Nam không thể chỉ tận dụng FDI để khai thác lao động giá rẻ. Lợi thế về chi phí đang thay đổi, trong khi yêu cầu về công nghệ, chất lượng và năng lực sản xuất ngày càng cao. Vì vậy, TP. Hồ Chí Minh cần tăng khả năng tham gia của doanh nghiệp trong nước và tạo ra liên kết thực chất hơn với khu vực FDI.

ThS. Phạm Bình An

Ông An cho biết, có những doanh nghiệp FDI muốn chuyển giao công nghệ nhưng doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực để tiếp nhận. Vì vậy, về cơ bản, mức độ chuyển giao công nghệ và liên kết chuỗi vẫn còn hạn chế.

Song song với việc nâng chất lượng các nguồn lực hiện có, thành phố cần tạo không gian cho những động lực mới như kinh tế số, AI, sản xuất thông minh, kinh tế dữ liệu, tài chính xanh và Trung tâm Tài chính quốc tế. Tuy nhiên, đây không phải những “lối tắt” để có ngay tăng trưởng cao. Muốn các lĩnh vực này tạo ra giá trị thực, thành phố vẫn phải giải quyết đồng thời các điều kiện về hạ tầng, thể chế, logistics, nhân lực và thị trường.

Trong đó, năng suất phải trở thành trọng tâm. Theo ông Bình An, tăng TFP không thể chỉ là một khẩu hiệu chung mà cần trở thành một chương trình cụ thể, có mục tiêu, nguồn lực và cách thức đo lường rõ ràng. Đây mới là nền tảng để thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng cao khi dư địa về vốn và lao động ngày càng thu hẹp.

TP. Hồ Chí Minh cần tìm động lực mới khi dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp
Quy mô kinh tế của TP. Hồ Chí Minh được đánh giá chiếm khoảng 24,5% GDP cả nước. Ảnh: Lê Toàn

Cùng với thay đổi động lực, cách điều hành cũng phải thay đổi. Ông Bình An đề xuất xây dựng một “hệ điều hành tăng trưởng” cho TP. Hồ Chí Minh, trong đó quản trị phải dựa trên kết quả chứ không chỉ dựa trên quy trình hành chính; xác định rõ đầu ra, thời gian, trách nhiệm và theo dõi bằng dữ liệu theo thời gian thực.

“Đây là việc rất khó, nhưng nếu muốn điều hành tăng trưởng hai con số thì phải quản trị được bằng dữ liệu. Không thể chỉ giao nhiệm vụ chung chung mà không có hệ thống đo lường và theo dõi cụ thể” - ông An nhấn mạnh.

Khi quy mô kinh tế đã chiếm gần 1/4 GDP cả nước, TP. Hồ Chí Minh khó có thể tiếp tục tăng trưởng chủ yếu bằng cách mở rộng nguồn lực. Bài toán phía trước là tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một đồng vốn, một lao động và một đơn vị nguồn lực.

Đó chính là bước chuyển từ tăng trưởng dựa vào lượng sang tăng trưởng dựa vào năng suất và giá trị gia tăng./.

Lạc Nguyên

Đọc thêm

Cục Dự trữ Nhà nước: Số hóa toàn diện quy trình quản lý, điều hành

Cục Dự trữ Nhà nước: Số hóa toàn diện quy trình quản lý, điều hành

(TBTCO) - Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và hiện đại hóa ngành Dự trữ Nhà nước, Cục Dự trữ Nhà nước đang tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp hạ tầng, công nghệ và thể chế. Mục tiêu lớn nhất được đặt ra: Hướng tới số hóa 100% quy trình quản lý, điều hành hoạt động dự trữ quốc gia trên môi trường số, chuyển mạnh từ phương thức quản lý thủ công truyền thống sang quản trị hiện đại dựa trên nền tảng dữ liệu.
Xuất cấp gần 60.000 tấn gạo dự trữ hỗ trợ học viên, học sinh học kỳ I năm học 2026 - 2027

Xuất cấp gần 60.000 tấn gạo dự trữ hỗ trợ học viên, học sinh học kỳ I năm học 2026 - 2027

(TBTCO) - Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2210/QĐ-BTC ngày 14/8/2026 giao Cục Dự trữ Nhà nước xuất cấp (không thu tiền) gần 60.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia (DTQG) giao cho Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo và 31 tỉnh, thành phố để hỗ trợ học sinh, học viên học kỳ I, năm học 2026-2027.
Đề xuất đổi cách phân bổ nguồn lực cho Chương trình mục tiêu quốc gia

Đề xuất đổi cách phân bổ nguồn lực cho Chương trình mục tiêu quốc gia

(TBTCO) - Sau khi tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, địa phương và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Tài chính đã hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Đáng chú ý, phương án mới đề xuất giữ nguyên tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng, nhưng thay đổi căn bản cách phân bổ, quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Bộ Tài chính công bố các quyết định về công tác cán bộ tại Học viện Tài chính

Bộ Tài chính công bố các quyết định về công tác cán bộ tại Học viện Tài chính

(TBTCO) - Sáng ngày 16/8, tại Hà Nội, Học viện Tài chính tổ chức Hội nghị công bố các quyết định của Bộ Tài chính về công tác cán bộ. Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn đến dự, trao quyết định và phát biểu chỉ đạo.
Kho bạc Nhà nước: Đổi mới quy trình nghiệp vụ, tạo thuận lợi hơn cho khách hàng

Kho bạc Nhà nước: Đổi mới quy trình nghiệp vụ, tạo thuận lợi hơn cho khách hàng

(TBTCO) - Cùng với cải cách thủ tục hành chính, Kho bạc Nhà nước đang tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, kết nối dữ liệu và đổi mới quy trình nghiệp vụ, qua đó tạo thuận lợi hơn cho các đơn vị giao dịch và người thụ hưởng ngân sách nhà nước. Từ những thay đổi trong từng khâu xử lý hồ sơ, thanh toán, định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm ngày càng được thể hiện rõ hơn trong hoạt động của Kho bạc Nhà nước.
Từ cứ điểm sản xuất đến điểm đến chiến lược

Từ cứ điểm sản xuất đến điểm đến chiến lược

(TBTCO) - Nếu trước đây Việt Nam được nhìn chủ yếu như một cứ điểm sản xuất có chi phí cạnh tranh, thì giờ đây, ngày càng nhiều nhà đầu tư đang nhìn Việt Nam như một thị trường chiến lược và cứ điểm kinh doanh dài hạn.
Phân cấp mạnh mẽ để tối ưu hóa nguồn lực

Phân cấp mạnh mẽ để tối ưu hóa nguồn lực

(TBTCO) - Bộ Tài chính (Cục Dự trữ Nhà nước) đã hoàn thiện và chính thức trình Chính phủ Dự thảo “Nghị định quy định chi tiết một số điều, biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về dự trữ quốc gia và quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia”. So với các quy định hiện hành, dự thảo Nghị định có nhiều quy định mới đột phá, qua đó nâng cao tính chủ động của quốc gia trước các tình huống cấp bách.
Rút ngắn thời gian thanh toán, khơi thông dòng vốn ngân sách

Rút ngắn thời gian thanh toán, khơi thông dòng vốn ngân sách

(TBTCO) - Không chỉ thay đổi mô hình tổ chức, Kho bạc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách từ khâu thủ tục đến phương thức thanh toán, với mục tiêu rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và đưa nguồn lực ngân sách đến đúng nơi, đúng thời điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều