BIDV trả giấy tờ đất cho HAGL Agrico để trả cho Thagrico

Chí Tín
Công ty cổ phần Nông nghiệp quốc tế Hoàng Anh Gia Lai (HAGL Agrico, mã HNG, sàn HOSE) cho biết, BIDV đã đồng ý trả giấy tờ đất để công ty này trả cho Thagrico.
aa

bidv

Hoàng Anh Gia Lai sẽ thanh toán các khoản vay tại BIDV để giải quyết các khúc mắc hiện tại giữa HAGL Agrico và Thagrico.

Trước đó từ năm 2019, Công ty cổ phần Nông nghiệp Trường Hải (Thagrico) đã nhận chuyển nhượng từ HAGL Agrico 3 công ty con, với tổng số tiền là 7.623 tỷ đồng. Các công ty con này sở hữu 22.462 ha đất.

Tuy nhiên, Thagrico vẫn chưa nhận được giấy tờ đất sau 2 năm nhận chuyển nhượng mặc dù đã thanh toán, do các giấy tờ đất bị giữ tại BIDV.

Cuối năm 2020 và đầu năm 2021, Thagrico tiếp tục nhận chuyển nhượng 4 công ty con từ HAGL Agrico. Các công ty này có tổng diện tích đất là 20.744 ha.

Tuy nhiên, giấy tờ đất của các công ty này bị thế chấp để đảm bảo cho các khoản nợ của Hoàng Anh Gia Lai (cổ đông lớn của HAGL Agrico) tại BIDV.

Mới đây, HAGL Agrico cho biết, BIDV đã đồng ý hoàn trả 3 giấy tờ đất cho HAGL Agrico để bàn giao cho Thagrico, theo đúng cam kết khi HAGL Agrico bán công ty con cho Thagrico vào năm 2019.

Hoàng Anh Gia Lai và BIDV sẽ tiến hành tách bạch tài sản của HAGL Agrico đang bảo đảm cho các khoản vay của Hoàng Anh Gia Lai và Hoàng Anh Gia Lai sẽ tiến hành thanh toán các khoản vay cho BIDV.

Với 4 công ty Thagrico mua đợt sau, tổng giá trị mua là 9.095 tỷ đồng, trong đó số tiền nhận nợ (nợ thừa kế) là 2.595 tỷ đồng, tổng số tiền Thagrico phải thanh toán cho HAGL Agrico là 6.500 tỷ đồng để trả nợ ngân hàng đến hạn và chi cho hoạt động đầu tư của HAGL Agrico. Đến nay, Thagrico đã thanh toán khoản 470 tỷ đồng. Số tiền Thagrico còn nợ là 6.030 tỷ đồng sẽ được cấn trừ vào khoản tiền 7.296 tỷ đồng mà HAGL Agrico đang nợ Thagrico.

Sau khi cấn trừ công nợ thông qua việc thanh toán dứt điểm hợp đồng mua 4 công ty trên thì HAGL Agrico còn nợ Thagrico số tiền là 1.266 tỷ đồng và Thagrico cam kết sẽ tiếp tục cho HAGL Agrico vay thêm khoảng 600 tỷ đồng để chi cho hoạt động đầu tư hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất và trồng mới trong năm 2021 này.

Trước đó vào tháng 6/2021, đại hội đồng cổ đông HAGL Agrico đã thông qua việc Thagrico đầu tư sở hữu hơn 741,4 triệu cổ phiếu HNG thông qua 2 hình thức.

Hình thức thứ nhất là HAGL Agrico phát hành 550 triệu cổ phiếu để hoán đổi với khoản nợ 5.500 tỷ đồng của Thagrico. Thứ hai là HAGL Agrico chào bán riêng lẻ hơn 191,4 triệu cổ phiếu cho Thagrico để huy động vốn sử dụng cho việc thanh toán các khoản phải trả ngắn hạn và dài hạn.

Tuy nhiên, mới đây Tharico đã quyết định dừng việc đầu tư sở hữu cổ phiếu HNG do dịch Covid-19 phức tạp đang gây khó khăn cho kinh doanh của Thagrico nên buộc Thagrico phải điều chỉnh lại kế hoạch đầu tư và kinh doanh.

Một trong những lý do nữa khiến Thagrico dừng kế hoạch mua cổ phiếu là việc có nhận chuyển nhượng các công ty con từ HAGL Agrico nhưng không nhận được giấy tờ đất.

Ngoài ra, cổ đông lớn của HAGL Agrico là Hoàng Anh Gia Lai liên tục bán cổ phiếu trong giai đoạn từ đầu năm đến nay với số lượng lớn khiến giá cổ phiếu HNG sụt giảm xuống dưới mệnh giá.

Trong thông tin mới đây từ phía HAGL Agrico, ngoài việc lấy được giấy tờ đất của 3 công ty con từ BIDV, cổ đông Hoàng Anh Gia Lai cũng đã cam kết dừng việc bán ra tiếp cổ phiếu HNG./.

Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

(TBTCO) - ROX Living vừa nâng tỷ lệ sở hữu tại MSB lên trên 1% vốn điều lệ sau khi mua thành công gần 18,3 triệu cổ phiếu trong tổng số 100 triệu cổ phiếu đăng ký. Động thái này diễn ra khi cơ cấu cổ đông lớn của MSB có nhiều biến động, xuất hiện thêm một số tên tuổi mới.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

(TBTCO) - Với NCB Visa Sun Signature, lần đầu tiên khách hàng có thể sở hữu một chiếc thẻ tín dụng ngân hàng tích hợp đồng thời các đặc quyền dành cho hội viên trong hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, bất động sản, hàng không và y tế cao cấp hàng đầu Việt Nam.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce

Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới đang trong giai đoạn tích lũy và điều chỉnh sau chuỗi tăng mạnh trước đó. Có quan điểm cho rằng, giá vàng có thể giảm xuống dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce và tìm điểm cân bằng quanh 3.900 USD/ounce, song triển vọng dài hạn vẫn tích cực. Theo nhóm phân tích của Ngân hàng UOB, giá vàng có thể lên tới 5.200 USD/ounce trong quý II/2027.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Kim TT/AVPL 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▲550K 14,600 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▲550K 14,550 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 ▲250K 14,900 ▲250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 ▲250K 14,850 ▲250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 ▲250K 14,830 ▲250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Nghệ An 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Thái Bình 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
NL 99.90 13,900 ▲450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,950 ▲450K
Trang sức 99.9 14,240 ▲350K 14,940 ▲350K
Trang sức 99.99 14,250 ▲350K 14,950 ▲350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 ▲4K 15,052 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 ▲4K 15,053 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 ▲40K 1,504 ▲35K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 ▲40K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 ▲40K 1,489 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,426 ▲126730K 147,426 ▲133030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,336 ▲2625K 111,836 ▲2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,912 ▲2380K 101,412 ▲2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,488 ▲2135K 90,988 ▲2135K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,467 ▲2040K 86,967 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,748 ▲1460K 62,248 ▲1460K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cập nhật: 15/06/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18053 18328 18912
CAD 18283 18559 19178
CHF 32504 32888 33538
CNY 0 3849 3942
EUR 29886 30109 31192
GBP 34485 34877 35815
HKD 0 3224 3427
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15638
SGD 19961 20243 20823
THB 723 786 839
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 30,010 30,034 31,393
JPY 159.81 160.1 169.37
GBP 34,721 34,815 35,934
AUD 18,262 18,328 18,977
CAD 18,474 18,533 19,172
CHF 32,715 32,817 33,701
SGD 20,093 20,155 20,902
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.01 16.7 18.12
THB 769.65 779.16 832
NZD 15,049 15,189 15,604
SEK - 2,756 2,847
DKK - 4,015 4,147
NOK - 2,723 2,812
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,075.17 - 6,842.18
TWD 752.68 - 909.68
SAR - 6,892.18 7,242.86
KWD - 83,429 88,559
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,423
EUR 29,963 30,083 31,272
GBP 34,754 34,894 35,914
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,568 32,699 33,616
JPY 160.23 160.87 168.71
AUD 18,254 18,327 18,920
SGD 20,186 20,267 20,853
THB 788 791 825
CAD 18,496 18,570 19,135
NZD 15,136 15,674
KRW 16.73 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26127 26127 26423
AUD 18234 18334 19265
CAD 18461 18561 19575
CHF 32731 32761 34348
CNY 3830.1 3855.1 3990.2
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30060 30090 31815
GBP 34792 34842 36610
HKD 0 3355 0
JPY 160.62 161.12 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20121 20251 20980
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,117 26,167 26,423
USD20 26,117 26,167 26,423
USD1 23,907 26,167 26,423
AUD 18,285 18,385 19,498
EUR 30,206 30,206 31,616
CAD 18,407 18,507 19,814
SGD 20,208 20,358 20,913
JPY 161.2 162.7 167.24
GBP 34,719 35,069 35,932
XAU 14,789,000 0 15,052,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/06/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80