Tiền gửi vượt mốc 15 triệu tỷ đồng, kỳ vọng tăng trưởng huy động cao nhất 5 năm

(TBTCO) - Bất chấp mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức thấp kéo dài, dòng tiền từ khu vực dân cư vẫn tiếp tục chảy mạnh vào hệ thống ngân hàng. Tính đến cuối tháng 4/2025, tiền gửi từ khu vực dân cư duy trì đà tăng 6,69% giúp đưa tổng tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng chính thức vượt mốc 15 triệu tỷ đồng.
aa
Tối ưu dòng tiền nhàn rỗi với giải pháp tiền gửi sinh lời tự động Tiền gửi dân cư bứt tốc đưa tổng tiền gửi sát mốc 15 triệu tỷ đồng Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 4/2025, tổng tiền gửi đạt 15,16 triệu tỷ đồng, tăng 4,5% so với cuối năm 2024.

Trong đó, tiền gửi từ khu vực dân cư lên tới 7,54 triệu tỷ đồng; còn tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt hơn 7,62 triệu tỷ đồng. Như vậy, tính riêng trong tháng 4, tiền gửi từ tổ chức kinh tế tăng thêm gần 105 nghìn tỷ đồng, trong khi khu vực dân cư cũng bổ sung hơn 67 nghìn tỷ đồng.

Về tốc độ tăng trưởng so với cuối năm 2024, tiền gửi từ tổ chức kinh tế giảm nhẹ 0,55%, chủ yếu do mức rút ròng lớn trong 2 tháng đầu năm. Ngược lại, tiền gửi từ dân cư tăng 6,69% trong 4 tháng đầu năm và đánh dấu tháng thứ 15 liên tiếp ghi nhận mức tăng trưởng dương.

Tiền gửi vượt mốc 15 triệu tỷ đồng, kỳ vọng tăng trưởng huy động cao nhất 5 năm
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý III/2025 của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước công bố cũng cho thấy, các tổ chức tín dụng dự báo đến cuối năm 2025, mặt bằng lãi suất sẽ cơ bản ổn định, không thay đổi đáng kể so với cuối năm 2024. Điều này phản ánh nỗ lực của ngành ngân hàng trong việc duy trì môi trường lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đồng thời đảm bảo sự ổn định tài chính.

Hiện nay, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng đối với các khoản tiền gửi dưới 1 tỷ đồng phổ biến ở mức 5 - 6%/năm. Dù lãi suất tiết kiệm không cao, song tiền gửi vẫn là kênh trú ẩn an toàn trong bối cảnh thị trường đầu tư khác còn nhiều biến động.

Về mặt bằng giá dịch vụ, các tổ chức tín dụng đã điều chỉnh giảm trong quý II/2025, chủ yếu thông qua việc hạ lãi suất biên thay vì cắt giảm phí dịch vụ, đúng với xu hướng đã được dự báo trước đó.

Đáng chú ý, xu hướng giảm nhẹ này được dự báo sẽ tiếp tục kéo dài đến quý III và cuối năm 2025, trái ngược với kỳ vọng tăng nhẹ được ghi nhận trong cuộc điều tra trước đó.

Động lực chính thúc đẩy xu hướng này là sự chủ động của các tổ chức tín dụng trong việc điều chỉnh giảm lãi suất biên nhằm hỗ trợ khách hàng và kích thích nhu cầu tín dụng.

Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng VND tiếp tục xu hướng giảm nhẹ trong quý II/2025. Chia sẻ tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 6/2025 vừa diễn ra, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, mức lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới hiện ở mức 6,38%/năm, giảm khoảng 0,6 điểm phần trăm so với cuối năm 2024.

Đáng chú ý, các tổ chức tín dụng đã nâng kỳ vọng tăng trưởng tín dụng trong năm 2025 lên mức 16,8%, cao hơn đáng kể so với mức tăng thực tế của năm 2024. Tính đến ngày 26/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 16,9 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2024. So với cùng kỳ năm trước (cuối tháng 6/2024), tín dụng tăng 18,87% và là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2023 đến nay.

Tương tự, kỳ vọng về tăng trưởng huy động vốn cũng được điều chỉnh lên 13,9%, mức cao vượt trội so với năm trước. Nếu đạt được thì đây sẽ là tốc độ tăng trưởng huy động vốn theo năm cao nhất trong vòng 5 năm qua./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

(TBTCO) - Bảo hiểm BIDV (BIC) dự kiến chi khoảng 242,48 tỷ đồng trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt, tỷ lệ 12%, tương đương 1.200 đồng/cổ phần, ngày đăng ký cuối cùng 8/10/2026.
Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.661 USD/ounce sau khi tăng hơn 15% trong một tháng. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn tiếp tục đi lên, có nơi đạt 154 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, vượt 4.650 USD/ounce. Trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục nhích tăng sau phiên tăng mạnh hôm qua, với vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng.
Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

(TBTCO) - Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 50% và gần 30 triệu cổ phiếu cho người lao động, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 106.600 tỷ đồng. Phương án mới điều chỉnh đáng kể so với kế hoạch trước, trong bối cảnh tín dụng của ngân hàng tăng mạnh và tiến sát hạn mức theo kịch bản đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông.
Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

(TBTCO) - Tiếp và làm việc với đoàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Bảo hiểm FWD, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế uy tín như FWD đầu tư lâu dài, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vừa có thêm hai gương mặt mới là VietSure Insurance (VSI) và ACB Insurance, nâng tổng số doanh nghiệp trong khối lên con số 34. Được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành bảo hiểm phi nhân thọ đang trở thành điểm đến hấp dẫn với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,200 150,200
Hà Nội - PNJ 147,200 150,200
Đà Nẵng - PNJ 147,200 150,200
Miền Tây - PNJ 147,200 150,200
Tây Nguyên - PNJ 147,200 150,200
Đông Nam Bộ - PNJ 147,200 150,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,730 15,030
Miếng SJC Nghệ An 14,730 15,030
Miếng SJC Thái Bình 14,730 15,030
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 15,150
NL 99.99 14,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,460 15,060
Trang sức 99.99 14,470 15,070
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1326K 15,002 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1326K 15,003 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▼3K 1,495 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▼3K 1,496 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 144 ▼1299K 1,485 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 14,003 ▼126324K 14,703 ▼132624K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,736 ▼225K 111,536 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,134 ▼82410K 10,114 ▼91230K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,944 ▼183K 90,744 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,934 ▼175K 86,734 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,281 ▼125K 62,081 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1326K 150 ▼1353K
Cập nhật: 27/08/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18206 18481 19061
CAD 18277 18553 19173
CHF 31759 32140 32793
CNY 0 3840 3936
EUR 29789 30011 31095
GBP 34669 35062 36000
HKD 0 3198 3401
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15213 15801
SGD 19996 20278 20850
THB 711 774 827
USD (1,2) 25838 0 0
USD (5,10,20) 25878 0 0
USD (50,100) 25906 25920 26290
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,910 25,910 26,290
USD(1-2-5) 24,874 - -
USD(10-20) 24,874 - -
EUR 29,823 29,847 31,262
JPY 159.48 159.77 169.4
GBP 34,830 34,924 36,133
AUD 18,392 18,458 19,162
CAD 18,453 18,512 19,196
CHF 32,014 32,114 33,054
SGD 20,104 20,167 20,966
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 17.44 18.19 19.8
THB 758.44 767.81 821.57
NZD 15,186 15,327 15,780
SEK - 2,693 2,788
DKK - 4,000 4,142
NOK - 2,745 2,843
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,055.08 - 6,837.57
TWD 741.15 - 897.89
SAR - 6,832.36 7,196.57
KWD - 82,770 88,069
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,867 29,987 31,184
GBP 34,929 35,069 36,107
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,906 32,034 32,970
JPY 159.94 160.58 168.56
AUD 18,378 18,452 19,048
SGD 20,180 20,261 20,859
THB 777 780 817
CAD 18,473 18,547 19,139
NZD 15,261 15,808
KRW 18.02 20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26290
AUD 18382 18482 19407
CAD 18459 18559 19573
CHF 32010 32040 33622
CNY 3822.5 3847.5 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29973 30003 31726
GBP 34977 35027 36784
HKD 0 3330 0
JPY 160.5 161 171.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15318 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20154 20284 21007
THB 0 739.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14600000 14600000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,940 25,940 26,300
USD20 25,890 25,940 26,841
USD1 25,840 25,940 26,891
AUD 18,418 18,518 19,630
EUR 29,818 29,918 31,579
CAD 18,455 18,555 19,862
SGD 20,266 20,416 21,671
JPY 161.05 162.55 168.09
GBP 35,022 35,172 36,436
XAU 14,758,000 0 15,062,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/08/2026 09:00
Ngân hàng